Ngôn ngữ, Chân lý và Logic (1936) ra đời khi Alfred Jules Ayer mới 25 tuổi, sau một thời gian ông tu nghiệp tại Vienna và tiếp xúc trực tiếp với những tư tưởng cách tân của Nhóm Viên. Đây là cuốn sách đã đưa chủ nghĩa Thực chứng Logic vào thế giới học thuật Anh ngữ với một độ công phá mạnh mẽ, trở thành một trong những văn bản triết học quan trọng và gây tranh cãi nhất thế kỷ 20. Tầm quan trọng của cuốn sách nằm ở việc thiết lập nguyên lý kiểm chứng như một thước đo khắt khe để phân định ý nghĩa: một chắt [mệnh đề] chỉ có nghĩa nếu nó là chân lý logic hoặc có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm; mọi tuyên bố siêu hình học, tôn giáo hay đạo đức học nằm ngoài phạm vi này đều bị coi là “vô nghĩa” . Alfred Jules Ayer (1910–1989), tác giả của tác phẩm, là một triết gia người Anh lỗi lạc, từng giữ ghế Giáo sư Triết học Logic Wykeham tại Đại học Oxford và được phong tước Hiệp sĩ vào năm 1970. Xuất thân từ một gia đình gốc Do Thái và Pháp, ông nổi tiếng với lối tư duy sắc bén, khả năng diễn đạt sáng sủa và tinh thần duy vật kiên định. Suốt sự nghiệp của mình, Ayer không chỉ đóng vai trò là người truyền bá các tư tưởng của Nhóm Viênmà còn là một nhà phân tích ngôn ngữ hàng đầu, người đã kiên trì bảo vệ quan điểm rằng chức năng duy nhất của triết học là làm trong sáng các khái niệm ngôn ngữ thay vì xây dựng những hệ thống giáo điều xa rời thực tại cảm tính.
A. J. Ayer
Trần Đình Thắng dịch (nháp 0.1)
Kỳ 1
Chương I
LOẠI BỎ SIÊU HÌNH HỌC
Phần lớn những tranh luận truyền thống giữa các triết gia đều không có cơ sở cũng như không đem lại kết quả gì. Cách chắc chắn nhất để chấm dứt những tranh cãi này là xác định rõ ràng mục đích và phương pháp của nghiên cứu triết học phải nên như thế nào. Và đây hoàn toàn không phải là một nhiệm vụ quá khó khăn như lịch sử triết học khiến ta mường tượng như thế. Vì nếu có bất kỳ câu hỏi nào mà khoa học dành câu trả lời cho triết học, thì một tiến trình loại bỏ trực tiếp hẳn phải dẫn đến việc phát hiện ra chúng.
Ta có thể bắt đầu bằng việc gặng xét luận điểm siêu hình cho rằng triết học mang lại cho chúng ta sự biết hiểu về một thực tại vượt ra ngoài thế giới khoa học và lẽ thường. Sau này, khi đi vào định nghĩa siêu hình học và giải thích sự tồn tại của nó, ta sẽ thấy rằng hoàn toàn có thể trở thành một nhà siêu hình học mà không cần phải tin vào một thực tại ngoài nghiệm [siêu nghiệm]; bởi vì ta sẽ thấy rằng nhiều câu cú, chữ nghĩa siêu hình nảy sinh do phạm phải các lỗi logic, chứ không phải là do những mong muốn có ý thức của những tác giả nhằm vượt ra ngoài những giới hạn của kinh nghiệm. Nhưng sẽ thích hợp cho chúng ta nếu lấy góc nhìn của những người cho rằng chúng ta có thể biết hiểu về một thực tại ngoài nghiệm làm điểm bắt đầu của cuộc thảo luận này. Những luận cứ được chúng ta dùng để bác bỏ họ thì sau này sẽ được áp dụng cho toàn bộ siêu hình học.
Một cách để tấn công một nhà siêu hình – người cho rằng mình có tri thức về một thực tại vượt ngoài thế giới hiện tượng– là vặn hỏi vào những tiền đề vốn dẫn đến các chắt của ni. Chẳng lẽ ông ta không bắt đầu từ các chứng cứ của giác quan của mình như bao người khác hay sao? Và nếu đúng như vậy, thì các bước lý luận có hiệu lực nào có thể dẫn ông ta đến quan niệm về một thực tại ngoài nghiệm? Chắc chắn, từ các tiền đề thường nghiệm, ta không thể suy diễn một cách hợp lệ về các tính chất của sự vật ngoài nghiệm, hoặc thậm chí về sự tồn tại của chúng. Tuy nhiên, lý lẽ này sẽ bị nhà siêu hình bác bỏ, họ cho rằng những khẳng định của họ luôn dựa trên chứng cứ giác quan của mình. Họ sẽ nói rằng, do được phú một năng lực trực giác lý trí, cho phép họ biết được những sự kiện mà kinh nghiệm-giác quan không thể nào nắm bắt. Và ngay cả khi ta có thể chỉ ra thực tế họ đang dựa vào các tiền đề thường nghiệm, và do đó, việc họ dấn vào một thế giới phi thường nghiệm là không thể biện minh được về mặt logic, thì điều đó cũng không có nghĩa là những khẳng định của họ về thế giới phi thường nghiệm này là không thể đúng. Bởi vì, việc một kết luận không suy được từ cái được cho là tiền đề của nó thì không đủ để chứng tỏ rằng kết luận này là sai. Do đó, ta không thể lật đổ một hệ thống siêu hình ngoài nghiệm chỉ bằng cách gặng xét cách thức hệ thống này ra đời. Những gì ta đang đòi hỏi là một gặng xét về bản tính của những phát biểu thực sự đã tạo nên hệ thống đó. Và đây chính là đường lối lập luận mà chúng ta thực sự sẽ theo đuổi. Vì chúng tôi sẽ bảo vệ góc nhìn rằng, mọi phát biểu rép đến một “thực tại” nằm ngoài những giới hạn của mọi kinh nghiệm cảm tính có thể có lại có thể có ý nghĩa mặt chữ; và từ đó, những người cố gắng mô tả một thực tại như vậy thì chỉ đang tạo ra những lời lẽ vô nghĩa.
Đáng chú ý là đây là một chắt đã được Kant chứng minh. Mặc dù Kant cũng lên án siêu hình học ngoài nghiệm, nhưng ông lên án dựa trên những căn cứ khác. Vì ông cho rằng cái tính biết hiểu (understanding) của con người vốn được cấu thành sao cho nó sẽ tự vướng vào những mâu thuẫn khi dấn ra ngoài những giới hạn của kinh nghiệm có thể và khi cố gắng xử lý các sự vật tự nó. Và do đó, ông đã quy sự không thể của một siêu hình học ngoài nghiệm không phải là vấn đề logic theo như chúng ta nghĩ, mà là vấn đề sự tính (matter of fact), tức vấn đề thuộc thường nghiệm. Ông khẳng định, không phải là trí óc của chúng ta không thể có khả năng thâm nhập vượt ra ngoài thế giới hiện tượng, mà chỉ đơn giản là trí óc chúng ta thực sự thiếu cái năng lực đó. Điều này dẫn đến câu hỏi của các nhà phê bình: nếu chỉ có thể biết được những gì nằm trong những đường ranh của kinh nghiệm cảm tính, thì trên cơ sở nào cho phép tác giả khẳng định về những sự vật thực sự tồn tại ngoài những đường ranh này? Và, trừ khi chính ông ta đã vượt qua những đường ranh ấy, làm sao ông ta có thể biết được đâu là những giới hạn không thể vượt qua của năng lực biết của con người? Như Wittgenstein đã nói, “để vạch ra một giới hạn cho tư tưởng, ta phải có thể tư tưởng ở cả hai phía của giới hạn này”. Chân lý này đã bị Bradley xuyên tạc khi cho rằng kẻ nào có ý định chứng minh siêu hình học là không thể thì thực chất cũng là một đồng môn siêu hình học với một lý thuyết đối lập của riêng mình.[1]
Dù những phản bác này có sức thuyết phục đến đâu đi nữa đối với học thuyết Kant, chúng hoàn toàn không có hiệu lực gì đối với luận điểm mà tôi sẽ trình bày. Ở đây không thể nói rằng tác giả đang tự mình bước qua rào cản mà ông ta cho là không thể vượt qua. Bởi vì việc cố gắng vượt qua những giới hạn của kinh nghiệm cảm tính có thể có sẽ vô ích. Điều này được suy ra không phải từ một giả thuyết tâm lý học về cấu tạo thực sự của tâm trí con người, mà từ quy tắc vốn xác định ý nghĩa theo mặt chữ của ngôn ngữ. Lời trách buộc của chúng tôi đối với nhà siêu hình học không phải là việc ông ta cố gắng sử dụng tính biết hiểu trong một lĩnh vực mà nó không thể dấn vào một cách hiệu quả, mà là việc họ tạo ra những câu không đáp ứng được các điều kiện mà qua đó câu cú mới có ý nghĩa thực sự. Chúng ta cũng không cần phải nói năng vô nghĩa để chứng minh rằng tất cả các câu thuộc một loại nhất định đều nhất thiết trống rỗng ý nghĩa. Chúng ta chỉ cần xây dựng tiêu chí cho phép chúng ta kiểm tra xem các câu có biểu đạt một chắt đích thực về một sự kiện thực tế hay không, và sau đó chỉ ra rằng các câu đang được xem xét không đáp ứng được tiêu chí đó. Và chúng ta sẽ tiến hành việc này ngay bây giờ.
Trước tiên, chúng tôi sẽ trình bày sơ lược tiêu chí này, sau đó sẽ đưa ra những giải thích cần thiết để tiêu chí này trở nên chính xác hơn. Tiêu chí mà chúng ta sử dụng để kiểm tra tính xác thực của những phát biểu sự tính là tiêu chí kiểm chứng được. Chúng ta nói rằng, một câu có ý nghĩa về mặt sự kiện đối với bất kỳ người nào, nếu và chỉ nếu người đó biết cách kiểm chứng chắt được biểu đạt qua câu đó— nghĩa là trong những điều kiện nhất định, nếu người đó biết những quan sát nào sẽ dẫn đến việc anh ta chấp nhận chắt đó là đúng hoặc bác bỏ nó là sai. Mặt khác, nếu cái được cho là chắt đấy có đặc điểm là giả định về tính đúng sai của nó luôn phù hợp với bất kỳ giả định nào liên quan đến bản chất kinh nghiệm trong tương lai của người đó, thế thì, đối với người này, chắt đó hoặc là một chắt hằng đúng, hoặc là một chắt giả. Câu biểu đạt chắt[2] đó có thể có ý nghĩa về mặt cảm xúc đối với người đó; nhưng nó không có ý nghĩa mặt chữ. Quy trình kiểm tra của chúng ta cũng tương tự đối với vấn đề này. Trong mỗi trường hợp, chúng ta đều đặt câu hỏi những quan sát nào bằng cách này hay cách khác sẽ dẫn chúng ta đến việc trả lời câu hỏi này; và nếu không tìm thấy những quan sát nào như vậy, chúng ta phải kết luận rằng câu đang được xem xét, theo quan điểm của chúng ta, không thể hiện một câu hỏi đích thực, cho dù hình thức ngữ pháp bề ngoài của nó có vẻ gợi ý mạnh đến đâu đi nữa.

Vì việc áp dụng quy trình này là một yếu tố quan trọng trong lập luận của cuốn sách này, nên nó cần được xem xét chi tiết. Trước hết, cần phải phân biệt giữa tính kiểm chứng được trên thực tiễn và tính kiểm chứng được trên nguyên tắc. Rõ ràng là trong nhiều trường hợp, tất cả chúng ta đều hiểu, và thậm chí tin vào những chắt mà trên thực tế chúng ta chưa hề thực hiện các bước để kiểm chứng. Nhiều chắt trong số đó có thể kiểm chứng được nếu chúng ta bỏ đủ công sức. Nhưng vẫn còn một số chắt quan trọng, liên quan đến các vấn đề sự kiện, mà ta không thể kiểm chứng ngay cả khi chúng ta muốn; đơn giản vì chúng ta thiếu phương tiện thực tế để đặt mình vào tình huống cho phép ta có thể thực hiện các quan sát liên quan. Một ví dụ đơn giản và quen thuộc về một chắt như vậy: Có những ngọn núi ở phía kia của mặt trăng.[3] Chưa có tên lửa nào được phát minh cho phép tôi đi và nhìn về phía kia của mặt trăng, vì vậy tôi không thể quyết định được vấn đề này bằng quan sát thực tế. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết là có thể tưởng tượng được nếu tôi ở vào vị trí có thể thực hiện những quan sát như vậy, tôi sẽ biết loại quan sát nào sẽ dẫn tôi đến việc quyết định điều đó. Và do đó, tôi nói rằng chắt này, nếu không phải trên thực tế, thì có thể kiểm chứng được về nguyên tắc, và vì thế, nó có ý nghĩa. Mặt khác, “cái Tuyệt đối tham gia vào sự tiến hóa và tiến triển, nhưng bản thân nó thì lại không tiến hóa và tiến triển”[4] đây là một chắt-giả siêu hình, thậm chí về nguyên tắc cũng không thể kiểm chứng được. Bởi vì không thể hình dung được một quan sát nào cho phép quyết định liệu cái Tuyệt đối có tham gia vào sự tiến hóa và tiến triển hay không. Tất nhiên, có thể tác giả của nhận xét đó đang sử dụng loại tiếng Anh không theo cách của loại tiếng Anh thông thường, và thực ra ông ta cũng có ý định khẳng định điều gì đó có thể được kiểm chứng bằng thực nghiệm. Tuy nhiên, ông ta không truyền đạt được gì cho chúng ta trừ khi ông ta chỉ ra cách thức kiểm chứng cái chắt mà ông ta muốn diễn đạt.
Và nếu ông ta thừa nhận — như tôi nghĩ tác giả của nhận xét đang nói đến sẽ thừa nhận — rằng lời lẽ của ông ta không nhằm diễn đạt một chắt hằng đúng, cũng không phải một chắt có khả năng kiểm chứng được (ít nhất là về mặt nguyên tắc), thì do đó, ông ta chỉ nói ra một câu không có ý nghĩa mặt chữ[5] ngay cả với chính ông ta.
Một điểm nữa mà chúng ta cần phân biệt, đấy là sự khác biệt giữa nghĩa “mạnh” (“strong”) và nghĩa “yếu” (“weak”) của thuật ngữ “[có thể] kiểm chứng được”. Một chắt được gọi là có thể kiểm chứng được theo nghĩa mạnh, nếu và chỉ nếu tính đúng sai của nó có thể được xác lập một cách dứt điểm bằng kinh nghiệm. Trái lại, nếu kinh nghiệm có thể khiến nó có khả năng xảy ra (probable), trong ca này, nó là kiểm chứng được theo nghĩa yếu.[6] Chúng ta đang sử dụng thuật ngữ “có thể kiểm chứng được” theo nghĩa nào khi nói rằng cái được cho là chắt sẽ là một chắt đích thực khi nó có thể kiểm chứng được?
Theo tôi, nếu chúng ta lấy tính kiểm chứng được theo cách tuyệt đối làm tiêu chí ý nghĩa, như một số nhà thực chứng luận đã đề xuất,[7] thì luận cứ của ta sẽ đi quá xa. Ví dụ, hãy xem xét trường hợp các [chắt] định luật tổng quát—đó là những chắt chẳng hạn như “thạch tín là chất độc”; “mọi người đều phải chết”; “một vật thể có xu hướng giãn nở khi bị nung nóng”. Bản chất của những chắt này là tính đúng sai của chúng không thể được xác lập một cách chắc chắn bằng bất kỳ loạt hữu hạn những quan sát. Nhưng nếu ta thừa nhận rằng những chắt định luật tổng quát như vậy có thể áp dụng bao quát cho vô số trường hợp, thì ta cũng phải thừa nhận rằng chúng không thể, ngay cả về nguyên tắc, kiểm chứng được một cách dứt điểm. Vật thì, nếu ta lấy tính kiểm chứng dứt điểm được (conclusive verifiability) làm tiêu chí ý nghĩa, thì về mặt logic, chúng ta buộc phải xử lý những chắt định luật tổng quát này theo cùng một cách mà chúng ta xử lý các phát biểu siêu hình học. Trước khó khăn này, một số nhà thực chứng[8] đã chọn cách tiếp cận táo bạo khi cho rằng những chắt tổng quát này thực sự là vô nghĩa, mặc dù là một loại vô nghĩa quan trọng. Nhưng ở đây, việc đưa ra thuật ngữ “quan trọng” chỉ đơn giản là một nỗ lực nhằm lãng tránh, rào đón. Nó chỉ nhằm ghi nhận các tác giả tự thừa nhận quan điểm của họ có phần quá nghịch lý, mà không hề tháo gỡ được nghịch lý đó theo bất cứ cách nào. Hơn nữa, khó khăn không chỉ giới hạn ở trường hợp các chắt định luật tổng quát, mặc dù nó được thể hiện rõ ràng nhất ở đó. Điều này cũng khá rõ trong trường hợp những chắt liên quan đến quá khứ xa xôi.[9] Vì chắc chắn phải thừa nhận rằng, dù chứng cứ ủng hộ các phát biểu lịch sử có mạnh đến đâu, tính đúng đắn của chúng không bao giờ có thể trở nên chắc chắn hơn mức độ “rất có khả năng” hay “rất là có thể”. Và việc khăng khăng cho rằng chúng cũng cấu thành một loại vô nghĩa (dù quan trọng hay không quan trọng), thì nói một cách nhẹ nhàng nhất, điều đó nghe không thể nào thông được. Thật vậy, chúng tôi sẽ lập luận rằng ngoại trừ các chắt hằng đúng, mọi chắt đều không hơn gì một giả thuyết có khả năng xảy ra. Và nếu điều này chính xác, thì nguyên tắc “một câu chỉ có ý nghĩa về mặt sự kiện nếu nó diễn đạt những gì chỉ có thể kiểm chứng dứt điểm được” nếu xét như một tiêu chí ý nghĩa, nguyên tắc này sẽ tự mâu thuẫn với chính nó. Bởi vì nguyên tắc này sẽ dẫn đến kết luận: Việc đưa ra một phát biểu có ý nghĩa liên quan đến sự kiện là điều hoàn toàn không thể.
Chúng ta cũng không thể chấp nhận góc nhìn cho rằng một câu chỉ được coi là có ý nghĩa sự kiện khi và chỉ khi nó biểu đạt điều gì đó vốn có thể bị bác bỏ dứt điểm được bằng kinh nghiệm.[10] Những người theo góc nhìn này cho rằng, mặc dù không có loạt hữu hạn các quan sát nào đủ để thiết lập tính đúng đắn của một giả thuyết vượt quá mọi khả năng nghi ngờ (beyond all possibility of doubt), nhưng có những trường hợp then chốt mà một quan sát đơn lẻ, hoặc một loạt các quan sát, có thể bác bỏ giả thuyết đó một cách quyết định. Nhưng, như sau này chúng tôi sẽ chứng minh, giả định này là sai. Một giả thuyết không thể bị bác bỏ dứt điểm cũng như không thể được kiểm chứng dứt điểm. Vì khi chúng ta coi sự xuất hiện của một số quan sát nhất định là chứng cứ cho thấy một giả thuyết nhất định là sai, chúng ta đã giả định trước sự tồn tại của một số điều kiện nhất định.[11] Và mặc dù, trong bất kỳ trường hợp nào, có thể rất khó xảy ra trường hợp giả định này là sai, nhưng việc này không phải là không thể về mặt logic. Chúng ta sẽ thấy rằng không nhất thiết là có mâu thuẫn khi cho rằng một số hoàn cảnh liên quan không như những gì chúng ta tin tưởng, và do đó giả thuyết đấy không thực sự bị sụp đổ.[12] Và nếu không phải giả thuyết nào cũng có thể bị bác bỏ dứt điểm, thì chúng ta không thể cho rằng tính đúng sai của một chắt sẽ phụ thuộc vào việc nó có khả năng bị bác bỏ dứt điểm hay không.[13]
Do đó, chúng ta quay trở lại với nghĩa yếu hơn của sự kiểm chứng. Chúng tôi tin rằng câu hỏi cần đặt ra đối với bất kỳ thứ nào được cho là phát biểu về một sự kiện không phải là “Liệu có quan sát nào làm cho tính đúng sai của nó chắc chắn về mặt logic?” mà đơn giản là “Liệu có quan sát nào có liên quan đến việc quyết định tính đúng sai của nó?” Và chỉ khi câu trả lời cho câu hỏi thứ hai này là phủ định thì chúng ta mới kết luận rằng phát biểu mà ta đang xem xét là vô nghĩa. Để làm rõ hơn lập trường của chúng tôi, chúng tôi có thể diễn đạt nó theo một cách khác. Ta hãy gọi một chắt ghi lại (record) một quan sát hoặc thực tế hoặc có thể xảy ra là một chắt kinh nghiệm. Khi đó, chúng ta có thể nói rằng đặc điểm của một chắt sự tính đích thực, không phải là nó phải tương đương với một chắt kinh nghiệm, hoặc bất kỳ số lượng hữu hạn các chắt kinh nghiệm nào, mà chỉ đơn giản là: từ chắt sự tính này, khi kết hợp với những tiền đề nhất định khác, ta có thể suy diễn ra được một số chắt kinh nghiệm mà nếu chỉ riêng những tiền đề kia thì không thể suy diễn ra được.[14]
Tiêu chí này có vẻ đủ thoáng. Trái ngược với nguyên tắc kiểm chứng dứt điểm, nó rõ ràng không phủ nhận tầm quan trọng của các chắt tổng quát hoặc các chắt về quá khứ. Chúng ta hãy xem tiêu chí này sẽ loại bỏ những loại khẳng định nào.
Một ví dụ điển hình về loại lời lẽ theo tiêu chí của chúng ta không chỉ sai mà còn vô nghĩa, đó là khẳng định rằng thế giới kinh nghiệm cảm tính thì hoàn toàn không có thực. Tất nhiên, phải thừa nhận rằng đôi khi các giác quan vẫn đánh lừa chúng ta. Do kết quả của một số cảm giác nhất định[15], chúng ta có thể kỳ vọng nhận được những cảm giác khác mà trên thực tế lại không thể. Nhưng trong tất cả các trường hợp như vậy, chính kinh nghiệm cảm tính có tiếp theo sẽ thông báo cho chúng ta biết về những sai lầm phát sinh từ kinh nghiệm-cảm tính.[16] Chúng ta nói rằng các giác quan đôi khi đánh lừa chúng ta, chỉ vì những kỳ vọng mà kinh nghiệm cảm tính của chúng ta phát sinh không phải lúc nào cũng tương ứng với những gì chúng ta trải nghiệm sau đấy. Nghĩa là, chúng ta dựa vào các giác quan của mình để xác nhận hoặc bác bỏ những phán đoán dựa trên cảm giác của chúng ta. Và do đó, việc các phán đoán tri giác (perceptual judgement) của chúng ta đôi khi được phát hiện là sai lầm không hề có chút xu hướng nào cho thấy rằng thế giới kinh nghiệm cảm tính là không có thực. Và thực vậy, rõ ràng là không có bất kỳ quan sát nào, hay loạt quan sát nào mà ta có thể tưởng tượng, lại có xu hướng cho thấy rằng thế giới được hé lộ cho chúng ta qua kinh nghiệm cảm tính là không có thực. Do đó, bất cứ ai cáo buộc thế giới cảm tính chỉ là một thế giới hiện tượng bên ngoài, đối lập với thực tại, thì đang nói điều mà theo tiêu chí ý nghĩa của chúng ta, là hoàn toàn vô nghĩa.
Lấy ví dụ về cuộc tranh luận, mà theo tiêu chí của chúng ta, buộc chúng ta phải kết luận là hư cấu, giả tạo (fictitious), chính là cuộc tranh cãi giữa những người bất đồng về số lượng thực thể (substances) có trên thế giới. Bởi vì những người theo thuyết nhất nguyên vốn cho rằng thực tại là một thực thể duy nhất, và những người đa nguyên lại cho rằng thực tại thì bao gồm nhiều thực thể, cả hai loại người này đều thừa nhận rằng không thể tưởng tượng ra bất kỳ tình huống thực nghiệm nào có liên quan đến việc giải quyết cuộc tranh cãi của họ. Nhưng nếu chúng ta được cho biết rằng không thể có quan sát nào có thể đem lại bất kỳ xác suất nào cho khẳng định rằng thực tại là một thực thể duy nhất hoặc thực tại thì gồm nhiều thực thể, thì chúng ta phải kết luận rằng cả hai khẳng định này đều không có ý nghĩa. Như chúng ta sẽ thấy sau này[17], có những câu hỏi logic và thường nghiệm thực sự liên quan đến cuộc tranh luận giữa những người nhất nguyên và những người đa nguyên. Nhưng vấn đề siêu hình liên quan đến “thực thể” bị loại trừ theo tiêu chí của chúng ta như một vấn đề giả mạo (spurious). Cuộc tranh luận giữa phe duy thực và phe duy niệm[18] cũng cần được xem xét theo cùng một cách thức ở khía cạnh siêu hình. Một ví dụ đơn giản được tôi sử dụng trong một lập luận tương tự ở đâu đó,[19] sẽ giúp làm rõ điều này. Giả sử một bức tranh được phát hiện và có ý kiến cho rằng nó được do Goya vẽ. Có một quy trình nhất định để giải quyết một vấn đề như vậy. Các chuyên gia sẽ kiểm tra bức tranh ấy để xem nó giống với các tác phẩm vốn đã được xác nhận của Goya ở những điểm nào, và tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu giả mạo nào; họ tra cứu các tài liệu đương thời để tìm bằng chứng về sự tồn tại của bức tranh như vậy, v.v. Cuối cùng, họ vẫn có thể bất đồng, nhưng mỗi người đều biết bằng chứng thực nghiệm nào sẽ xác nhận hoặc bác bỏ ý kiến của mình. Giờ thì cứ xem những người này đã nghiên cứu triết học, một số trong họ cho rằng bức tranh này là một tập hợp các ý tưởng trong tâm trí người cảm nhận, hoặc trong tâm trí của Chúa, những người khác thì cho rằng nó là có thật một cách khách quan. Liệu ai trong số họ có kinh nghiệm nào có thể giúp việc giải quyết tranh cãi này theo cách này hay cách khác không? Theo nghĩa thông thường của thuật ngữ “thực”, trái với “ảo tưởng”, tính thực của bức tranh là không thể nghi ngờ. Sau khi thu được một loạt cảm giác thị giác và xúc giác tương ứng, những người tranh cãi đã tự thuyết phục rằng bức tranh là thật theo ý nghĩa này. Liệu có quy trình tương tự nào mà họ có thể dung để khám phá xem bức tranh là thật hay không, theo nghĩa mà “thật” trái ngược với “ý niệm” (ideal)? Rõ ràng là không có. Nhưng, nếu là vậy, vấn đề này là giả tạo [hư cấu] theo tiêu chí của chúng ta. Điều này không có nghĩa là cuộc tranh luận giữa duy thực luận và duy niệm luận có thể bị gạt bỏ ngay lập tức. Vì nó có thể được coi là một cuộc tranh luận chính đáng liên quan đến việc phân tích các chắt tồn tại, và do đó có liên quan đến một vấn đề logic mà, như chúng ta sẽ thấy, có thể được giải quyết dứt điểm. Như chúng ta vừa chỉ ra, vấn đề tranh luận giữa duy niệm và duy thực, trong hầu hết các trường hợp, trở thành hư cấu khi được diễn giải bằng siêu hình học.
[còn tiếp]
Bradley, Appearance and Reality, 2nd ed., p. I. ↑
+ xem phần giới thiệu để hiểu sự phân biệt giữa ‘câu’ và ‘chắt’; ví dụ, ‘Snow is white’, ‘La neige est blanche’, ‘Schnee ist weiß’ là ba câu khác nhau nhưng biểu đạt cùng một chắt, đó là /tuyết có màu trắng/. ↑
Ví dụ này đã được Giáo sư Schlick sử dụng để minh họa cho cùng một điểm vừa nêu. ↑
Một nhận xét được chọn ngẫu nhiên từ Appearance and Reality của F. H. Bradley. + Gốc: “the Absolute enters into, but is itself incapable of, evolution and progress”. ↑
+ ý nghĩa mặt chữ (literal significance): loại ý nghĩa có thông tin, thể xác định được là đúng hoặc sai; ví dụ, ‘trời đang mưa’ thì có ý nghĩa mặt chữ, nhưng ‘thượng đế có ba ngôi’ thì không. ↑
+ Ví dụ: “Tất cả loài người đều sẽ chết”. Chúng ta không thể quan sát cái chết của mọi người trong tương lai để xác lập dứt khoát (nghĩa mạnh), nhưng mọi quan sát cho đến nay đều làm cho chắt này trở nên cực kỳ đáng tin (nghĩa yếu). ↑
M. Schlick, “Positivismus und Realismus” [Thực chứng luận và Hiện thực luận], tạp chí Erkenntnis, Tập I, 1930. F. Waismann, “Logische Analyse des Warscheinlichkeitsbegrím” [Phân tích lô-gíc về khái niệm xác suất], tạp chí Erkenntnis, Tập I, 1930. ↑
M. Schlick, “Die Kausalität in der gegenwärtigen Physik” [Tính nhân quả trong vật lý học hiện đại], tạp chí Naturwissenschaften, Tập 19, 1931. ↑
+ Chẳng hạn, Napoleon đã thua trận Waterloo. ↑
Ý tưởng này được Karl Popper đưa ra trong Logik der Forschung của ông. + Đoạn này Ayer trực tiếp phê phán tư tưởng của Karl Popper về tiêu chí “có thể bác bỏ được” – falsifiability). Ayer lập luận rằng việc bác bỏ một giả thuyết cũng bấp bênh y như việc chứng minh nó vậy. ↑
+ Có lẽ Ayer đang muốn nói đến “tính không đơn lẻ của giả thuyết” hoặc “tính chỉnh thể của giả thuyết” hoặc “luận đề Quine-Duhem”, tức là, Ayer đang chỉ ra rằng trong thực nghiệm, không có giả thuyết nào đứng một mình để chịu sự phán xét của kinh nghiệm. Lấy ví dụ về cái bẫy của “điều kiện giả định trước”: khi ta thực hiện một quan sát để bác bỏ giả thuyết A, ta không chỉ dùng mỗi giả thuyết A. Ta luôn ngầm giả định thêm một loạt các điều kiện phụ (gọi là các giả thuyết bổ trợ – auxiliary hypotheses). Chẳng hạn, ta muốn bác bỏ giả thuyết A: “Nước sôi ở 100°C”. Kế đến, ta đun nước, nhiệt kế chỉ 110°C mà nước vẫn chưa sôi. Taạn có thể kết luận giả thuyết A sai? Câu trả lời là không hẳn! Vì khi ấy, ta đã ngầm giả định trước là: 1. Cái nhiệt kế của ta đang hoạt động bình thường (không hỏng). 2. Nước ta dùng để test là nước tinh khiết (không lẫn tạp chất). 3. Áp suất môi trường đang ở mức tiêu chuẩn (1 atm). ↑
+ Về việc một giả thuyết “sai” so với quan sát nhưng vẫn không “sụp đổ”, lấy ví dụ về sự “sai lệch” của Sao Thiên Vương (Uranus). Vào thế kỷ 19, các nhà khoa học tin rằng Thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton là đúng tuyệt đối. Theo thuyết này, quỹ đạo của Sao Thiên Vương phải đi theo một đường cong cụ thể (giả thuyết) dựa trên lực hút của Mặt Trời và các hành tinh đã biết. Khi quan sát qua kính thiên văn, người ta thấy Sao Thiên Vương không đi đúng quỹ đạo đó. Nó bị lệch đi một chút (hoàn cảnh liên quan). Lúc này, theo logic “kiểm chứng dứt điểm” hoặc “bác bỏ dứt điểm”, ta có hai lựa chọn: – Lựa chọn 1 (bác bỏ giả thuyết), nghĩa là thuyết hấp dẫn của Newton sai. Nó đã bị thực nghiệm bác bỏ xác đáng. – Lựa chọn 2 (điều chỉnh hoàn cảnh có liên quan): Thuyết Newton vẫn đúng, nhưng có một “hoàn cảnh liên quan” (circumstance) nào đó mà ta đã hiểu sai hoặc chưa biết tới. Các nhà thiên văn (như Urbain Le Verrier) đã chọn Lựa chọn 2. Họ tuyên bố: “Giả thuyết của Newton không sụp đổ. Sở dĩ Sao Thiên Vương chạy sai là vì còn một hành tinh ẩn hiện nào đó đang hút nó, mà chúng ta chưa nhìn thấy.” Về mặt logic, họ không mâu thuẫn. Họ không nói “Newton vừa đúng vừa sai”, mà họ nói “Newton đúng, nhưng điều kiện quan sát của chúng ta về số lượng hành tinh là chưa đủ”. Sau này, người ta chĩa kính thiên văn vào vùng không gian tính toán và tìm thấy Sao Hải Vương. ↑
+ đây là đòn “chốt hạ” của Ayer trong việc bác bỏ tiêu chí “bác bỏ được” (falsifiability) của Karl Popper. ↑
Đây là một cách phát biểu đơn giản quá mức và không hoàn toàn chính xác về mặt chữ nghĩa. Tôi đã đưa ra điều mà tôi tin là cách diễn đạt chính xác trong phần Lời giới thiệu, trang 13. ↑
+ ví dụ nhìn cái thìa trong ly nước thấy nó bị xiên gãy. ↑
+ Bạn chỉ biết cái thìa bị “gãy” là ảo giác khi bạn lấy nó ra khỏi nước và dùng mắt nhìn lại hoặc dùng tay kiểm tra. ↑
Xem chương VIII. ↑
+ idealist: duy tâm hay duy niệm. Ở đây dịch là ‘duy niệm’ để nhấn mạnh vào khía cạnh “ý niệm” (Idea). ↑
Xem “Demonstration of the Impossibility of Metaphysics” (Chứng minh tính không thể của siêu hình học), Mind, 1934, P. 339. ↑




Leave a Reply