Ngôn ngữ, Chân lý và Logic (1936) ra đời khi Alfred Jules Ayer mới 25 tuổi, sau một thời gian ông tu nghiệp tại Vienna và tiếp xúc trực tiếp với những tư tưởng cách tân của Nhóm Viên. Đây là cuốn sách đã đưa chủ nghĩa Thực chứng Logic vào thế giới học thuật Anh ngữ với một độ công phá mạnh mẽ, trở thành một trong những văn bản triết học quan trọng và gây tranh cãi nhất thế kỷ 20. Tầm quan trọng của cuốn sách nằm ở việc thiết lập nguyên lý kiểm chứng như một thước đo khắt khe để phân định ý nghĩa: một chắt [mệnh đề] chỉ có nghĩa nếu nó là chân lý logic hoặc có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm; mọi tuyên bố siêu hình học, tôn giáo hay đạo đức học nằm ngoài phạm vi này đều bị coi là “vô nghĩa” . Alfred Jules Ayer (1910–1989), tác giả của tác phẩm, là một triết gia người Anh lỗi lạc, từng giữ ghế Giáo sư Triết học Logic Wykeham tại Đại học Oxford và được phong tước Hiệp sĩ vào năm 1970. Xuất thân từ một gia đình gốc Do Thái và Pháp, ông nổi tiếng với lối tư duy sắc bén, khả năng diễn đạt sáng sủa và tinh thần duy vật kiên định. Suốt sự nghiệp của mình, Ayer không chỉ đóng vai trò là người truyền bá các tư tưởng của Nhóm Viênmà còn là một nhà phân tích ngôn ngữ hàng đầu, người đã kiên trì bảo vệ quan điểm rằng chức năng duy nhất của triết học là làm trong sáng các khái niệm ngôn ngữ thay vì xây dựng những hệ thống giáo điều xa rời thực tại cảm tính.
A. J. Ayer
Trần Đình Thắng dịch (nháp 0.1)
Kỳ 2
Kỳ 1: https://trietvui.com/2026/05/15/ngon-ngu-chan-ly-logic/
Chương I
LOẠI BỎ SIÊU HÌNH HỌC
[tiếp]
Chúng ta không cần đưa ra thêm ví dụ nào về cách vận dụng tiêu chí ý nghĩa của chúng ta. Vì mục đích của chúng ta chỉ đơn giản là để chứng minh rằng triết học, với tư cách là một ngành tri thức đích thực, cần phải được phân biệt với siêu hình học. Hiện tại chúng ta không quan tâm đến câu hỏi lịch sử về việc bao nhiêu phần trong truyền thống được coi là triết học nhưng thực chất là siêu hình học. Tuy nhiên, phần sau chúng ta sẽ chỉ ra rằng đa số các “triết gia vĩ đại” trong quá khứ về bản chất không phải là những nhà siêu hình học, và do đó xua tan những nghi ngờ của những người có thể không muốn chấp nhận các tiêu chí của chúng tôi vì lòng trung thành với các triết gia vĩ đại đấy.
Về tính hiệu lực của nguyên tắc kiểm chứng, dưới hình thức đã được trình bày, chúng tôi sẽ đưa ra một chứng minh trong cuốn sách này. Vì [chúng tôi] sẽ chứng minh rằng, tất cả các chắt có nội dung sự kiẹn đều là giả thuyết thường nghiệm; và [rằng] chức năng của một giả thuyết thường nghiệm là đưa ra một quy tắc để dự đoán kinh nghiệm.[1] Và điều này có nghĩa là mọi giả thuyết thường nghiệm phải liên quan đến một số kinh nghiệm thực sự hoặc có thể xảy ra nào đó, vì thế, một phát biểu không liên quan đến bất kỳ kinh nghiệm nào thì không phải là giả thuyết thường nghiệm, và do đó không có nội dung sự kiện. Nhưng đây chính xác là những gì mà nguyên tắc kiểm chứng khẳng định.
Cần phải nói rõ ở đây rằng việc những lời lẽ của nhà siêu hình là vô nghĩa không đơn thuần là do việc chúng vắng thiếu nội dung sự kiện. Sự vô nghĩa đó xuất phát từ việc đấy cùng với việc chúng không phải là các chắt trước nghiệm.
Và khi giả định rằng chúng không phải là các chắt trước nghiệm, chúng ta lại một lần nữa đang dự đoán các kết luận của một chương sau trong cuốn sách này. Trong chương đấy sẽ chỉ ra rằng các chắt trước nghiệm – vốn luôn thu hút các nhà triết học vì tính chắc chắn của chúng – có được tính chắc chắn này là do chúng là những hằng đúng. Do đó, chúng ta có thể định nghĩa một câu siêu hình là một câu nhằm biểu đạt một chắt thực sự, nhưng trên thực tế, nó không phải là hằng đúng cũng không phải là một giả thuyết thường nghiệm. Và vì các hằng đúng và giả thuyết thường nghiệm tạo thành toàn bộ tập hợp các chắt có ý nghĩa, chúng ta có cơ sở để kết luận rằng tất cả các khẳng định siêu hình đều vô nghĩa. Nhiệm vụ tiếp theo của chúng ta là chỉ ra cách chúng được tạo ra.
Việc sử dụng thuật ngữ “thực thể” như chúng ta đã nói đến là một ví dụ điển hình về siêu hình học được hình thành hầu như theo cách này. Thực tế là trong ngôn ngữ của chúng ta, chúng ta không thể đề cập đến các tính chất cảm tính (sensible) của một sự vật mà không dùng đến một từ hoặc cụm từ nào đó dường như để đại diện cho bản thân sự vật đó, đối lập với những từ ngữ dùng để nói về sự vật này.[2] Vì lý do này, những người bị ảnh hưởng bởi mê tín nguyên thủy – tin rằng mỗi tên gọi phải tương ứng với một thực thể duy nhất, có thật – họ cho rằng cần phải phân biệt về mặt logic giữa chính sự vật và bất kỳ hoặc tất cả các tính chất cảm tính của sự vật đấy. Và vì thế, họ dùng thuật ngữ “thực thể” để chỉ chính sự vật đó. Nhưng từ việc chúng ta tình cờ dùng một từ duy nhất để chỉ một sự vật, và biến từ đó thành chủ ngữ ngữ pháp của những câu mà chúng ta dùng để nói đến các biểu hiện cảm tính của sự vật, thì không có nghĩa là bản thân sự vật đó là một “thực thể đơn”, hoặc ta không thể định nghĩa sự vật ấy dựa trên toàn bộ các biểu hiện của nó. Quả thật là khi nói về các hiện tượng của “sự vật”, chúng ta dường như đang phân biệt giữa sự vật ấy và các hiện tượng, nhưng đó chỉ đơn thuần là ngẫu nhiên trong lối dùng ngôn ngữ. Phân tích logic cho thấy điều làm cho những “hiện tượng” này trở thành “hiện tượng của” cùng một sự vật thì không phải là quan hệ giữa những hiện tượng với một thực thể khác với chúng, mà là quan hệ giữa các hiện tượng này với nhau. Nhà siêu hình học đã không nhận ra điều này vì ông ta bị sai lạc do một đặc điểm ngữ pháp cạn cợt ở bề mặt trong ngôn ngữ của mình.
Một ví dụ đơn giản và rõ ràng hơn về cách thức dẫn đến siêu hình học từ nguyên nhân ngữ pháp, đó là trường hợp khái niệm siêu hình về Tồn tại (Being). Gốc rễ cám dỗ khiến chúng ta đặt câu hỏi về Tồn tại – những câu hỏi mà không một kinh nghiệm có thể nào cho phép ta trả lời – nằm ở chỗ trong ngôn ngữ của chúng ta, các câu biểu đạt chắt tồn tại (existential propositions) và các câu biểu đạt chắt về tính chất (attributive propositions) có thể có cùng dạng ngữ pháp. Ví dụ, các câu “Những người tử đạo tồn tại” [“Martyrs exist”] và “Những người tử đạo chịu khổ hình” [“Martyrs suffer”] đều bao gồm một danh từ theo sau là một động từ không bắc cầu[3], và việc chúng có cùng dạng ngữ pháp khiến ta cho rằng chúng thuộc cùng một kiểu logic. Trong chắt “Những người tử đạo chịu khổ hình”, ta thấy rằng các thành viên của một chủng loài nhất định được gán cho một tính chất nhất định, và đôi khi ta cho rằng điều tương tự cũng đúng với chắt “Những người tử đạo tồn tại”. Nếu quả thực là vậy, thì việc suy biện về sự Tồn tại của những người tử đạo cũng hợp lệ như việc suy biện về sự khổ hình của họ. Nhưng, như Kant đã chỉ ra,[4] tồn tại không phải là một thuộc tính. Vì khi chúng ta gán một thuộc tính cho một sự vật, chúng ta ngầm khẳng định sự vật ấy tồn tại: do đó, nếu tồn tại tự nó là một thuộc tính, thì tất cả các chắt tồn tại dạng khẳng định (positive existential propositions) sẽ là những hằng đúng, và tất cả các chắt tồn tại dạng phủ định đều mâu thuẫn; song thực tế thì không phải vậy.[5] Vì vậy, những người đặt câu hỏi về Tồn tại – vốn dựa trên giả định rằng tồn tại là một thuộc tính – thì đều phạm phải lỗi theo ngữ pháp vượt quá những ranh giới của nghĩa.
Những chắt như “kỳ lân là hư cấu” cũng mắc phải sai lầm tương tự. Ở đây cũng vậy, việc có một tương đồng về ngữ pháp bề mặt giữa các câu tiếng Anh “Chó thì trung thành” và “Kỳ lân là hư cấu”, cũng như giữa các câu tương ứng trong những ngôn ngữ khác, đã tạo ra giả định rằng chúng thuộc cùng một kiểu logic. Chó phải tồn tại thì mới có thể có ‘tính chất’ trung thành, và vì vậy có người cho rằng trừ khi kỳ lân tồn tại theo cách nào đó, bằng không thì chúng không thể có nào có tính chất ‘hư cấu’. Nhưng nói rằng các sự vật hư cấu tồn tại rõ ràng là mâu thuẫn, nên người ta sử dụng thủ pháp nói rằng chúng có thật theo một nghĩa phi thường nghiệm nào đó—rằng chúng có một phương thức tồn tại thực sự khác với phương thức tồn tại của những thứ có thật. Nhưng vì không có cách nào để kiểm xem một đối tượng có thật theo nghĩa này, giống như cách kiểm xem nó có thật hay không theo nghĩa thông thường, thế nên khẳng định rằng các đối tượng hư cấu có một phương thức tồn tại phi thường nghiệm theo cách đặc biệt là hoàn toàn vô nghĩa. Điều này được đưa ra là do giả định rằng tính hư cấu là một thuộc tính. Hơn nữa, đây là một ngụy biện cùng loại với ngụy biện cho rằng sự tồn tại là một thuộc tính, và có thể vạch trần ngụy biện này theo cùng một cách.

Nhìn chung, lối nói về những thứ không tồn tại nhưng lại có thật bắt nguồn từ sự mê tín vừa được đề cập, cụ thể là, với mỗi từ hoặc cụm từ có thể là chủ ngữ ngữ pháp của một câu, phải có một thực thể có thật tương ứng ở đâu đó. Bởi vì không có chỗ trong thế giới thường nghiệm cho nhiều “thực thể” loại này, nên một thế giới phi thường nghiệm đặc biệt được viện dẫn để chứa chấp chúng.
Sai lầm này không chỉ bắt nguồn từ những phát ngôn của Heidegger, người đặt siêu hình học của mình trên giả định rằng cái “Không” (Nothing) là một tên gọi được sử dụng để chỉ một cái gì đó đặc biệt huyền bí,[6] mà còn từ sự phổ biến của những vấn đề liên quan đến thực tại của các chắt và các khái niệm phổ quát mà sự vô nghĩa của chúng, mặc dù ít lộ rõ, nhưng cũng không kém phần triệt để.
Một vài ví dụ này đủ để minh họa cách thức hình thành nhiều khẳng định siêu hình. Chúng cho thấy việc viết những câu hoàn toàn vô nghĩa mà không hề nhận ra sự vô nghĩa đó thì dễ dàng như thế nào. Và do đó, chúng ta thấy rằng góc nhìn cho rằng một số “vấn đề triết học” truyền thống là siêu hình, và do đó là hư cấu, không hề liên quan đến bất kỳ giả định khó tin nào về tâm lý của các nhà triết học.[7]
Có những người nhận ra rằng nếu triết học được coi là một ngành tri thức đích thực thì nó phải được định nghĩa sao cho có thể phân biệt nó với siêu hình học. Theo họ, xu hướng hợp thời là xem các nhà siêu hình học như một kiểu nhà thơ nhầm chỗ. Vì những lời lẽ siêu hình không có nghĩa mặt chữ, nên chúng không chịu bất kỳ tiêu chí nào về đúng hay sai: nhưng chúng vẫn có thể dùng để diễn đạt, hoặc khơi gợi cảm xúc, và do đó chịu sự chi phối của các tiêu chuẩn đạo đức hoặc thẩm mỹ. Và người ta cho rằng chúng vẫn có thể có giá trị đáng kể, xét như một công cụ truyền cảm hứng đạo đức, hoặc thậm chí như những tác phẩm nghệ thuật. Bằng cách này, họ cố gắng bù đắp cho nhà siêu hình khi trục xuất ông ta ra khỏi triết học.[8]
Tôi e rằng khoản bù đắp này khó mà tương xứng với những gì nhà siêu hình đáng nhận được. Quan điểm cho rằng nhà siêu hình nên được xếp vào hàng ngũ các nhà thơ dường như dựa trên giả định rằng lời lẽ của cả hai đều vô nghĩa. Nhưng giả định này là sai. Trong phần lớn trường hợp, những câu cú do các nhà thơ viết ra đều có nghĩa mặt chữ. Sự khác biệt giữa người sử dụng ngôn ngữ theo cách khoa học và người sử dụng ngôn ngữ để khơi gợi cảm xúc không phải là do người này tạo ra những câu không có khả năng khơi gợi cảm xúc và người kia thì tạo ra những câu vô nghĩa. Sự khác biệt là ở chỗ, người này chủ yếu quan tâm đến việc diễn đạt những chắt đúng, còn người kia quan tâm đến việc sáng tạo một nghệ phẩm. Do đó, nếu một công trình khoa học chứa đựng những chắt đúng và quan trọng, giá trị của nó, xét như một công trình khoa học, thì khó có thể bị giảm sút bởi việc diễn đạt thiếu trau chuốt của chúng. Tương tự, một nghệ phẩm không nhất thiết trở nên tệ hơn chỉ vì tất cả các chắt cấu thành tác phẩm đều sai theo nghĩa mặt chữ. Nhưng nói rằng nhiều tác phẩm văn học phần lớn được hình thành từ những điều sai sự thật, không có nghĩa là chúng được cấu thành từ những chắt giả (pseudo-propositions). Thực tế, rất hiếm khi một nhà văn viết ra những câu không có nghĩa mặt chữ. Và nếu điều đó xảy ra, các câu cú vẫn được lựa chọn cẩn thận về nhịp điệu và cân bằng. Nếu tác giả viết những câu vô nghĩa, đó là vì ông ta đã cân nhắc cách phù hợp nhất để đạt được hiệu quả mà việc viết của ông ta hướng đến.[9]
Ngược lại, các nhà siêu hình không hề có ý định viết những thứ vô nghĩa. Họ sa vào đó do ngữ pháp đánh lừa, hoặc phạm lỗi suy luận, chẳng hạn, như lỗi suy luận đưa đến góc nhìn cho rằng thế giới cảm tính là không có thật. Nhưng chỉ mắc những lỗi như vậy thì không phải là dấu ấn của một nhà thơ.
Thực vậy, có một số người sẽ nhìn thấy trong việc những lý lẽ siêu hình là vô nghĩa chính là lý do để bác bỏ góc nhìn cho rằng chúng có giá trị thẩm mỹ. Và, không cần đi xa đến vậy, chúng ta có thể tự tin khẳng định rằng sự vô nghĩa đấy không đủ khẳng định chúng có giá trị thẩm mỹ. Tuy nhiên, mặc dù phần lớn siêu hình học chỉ là biểu hiện của những sai lầm tầm thường, vẫn còn đó một số đoạn văn siêu hình là công trình của cảm xúc thần bí đích thực; và có thể xem chúng mang tính giá trị đạo đức hoặc thẩm mỹ thì hợp lý hơn. Nhưng, đối với chúng ta, sự phân biệt giữa thể loại siêu hình của những nhà triết học bị ngữ pháp đánh lừa, và loại siêu hình của một nhà thần bí đang cố gắng biểu đạt điều không thể biểu đạt, thì không quan trọng lắm. Đối với chúng ta, điều quan trọng là nhận ra rằng ngay cả những lời lẽ của nhà siêu hình học đang cố gắng giải thích một tầm nhìn (vision) cũng vô nghĩa theo mặt chữ; để từ nay trở đi, ta gần như có thể bỏ qua chúng trong các nghiên cứu triết học sau này của mình, cũng như với loại siêu hình học kém vẻ vang hơn bắt nguồn từ việc không hiểu được cách thức hoạt động của ngôn ngữ chúng ta.
[còn tiếp]
Thuật ngữ chương I
| + | Phần do người dịch tự đưa vào. |
| a priori | trước nghiệm [tiên nghiệm] |
| conclusively | Theo cách dứt điểm hoặc ‘mang tính quyết định’: [chứng cứ] lập luận mạnh đến mức chấm dứt cuộc tranh luận hoặc câu hỏi, đặc biệt là vì do không thể bác bỏ được. Để bác bỏ chắt thường nghiệm, ‘mọi thiên nga đều có màu trắng’, thì chỉ cần một con thiên nga ‘không trắng’ là đủ để bác bỏ dứt điểm chắt này. |
| criticism | gặng xét [phê phán] |
| empirical | Thường nghiệm, kinh nghiệm |
| existential proposition | chắt [về] tồn tại, tức là chắt khẳng định một sự vật gì đó là tồn tại, là có thực; ví dụ, ‘có con sư tử trong nhà’ |
| experiential proposition, factual proposition | chắt thường nhiệm ~ chắt sự tính |
| idealism | Duy tâm; duy niệm hay quan niệm luận |
| literal significance | ý nghĩa [theo] mặt chữ |
| matter of fact | vấn đề sự tính (liên quan đến thế giới kinh nghiệm) |
| proposition | chắt [mệnh đề] |
| pseudo-proposition | chắt giả |
| real | Thật hay thực |
| sense-experience | kinh nghiệm cảm tính |
| statement | phát biểu |
| substance | Thực thể |
| tautology | [chắt] hằng đúng |
| transcendent | ngoài nghiệm [siêu nghiệm] |
| verifiability | Tính kiểm chứng/chứng thực được |
| verifiable | [có thể] kiểm chứng được |
[1] Xem Chương V. Chương IV.
[2] + Sự áp đặt hay đánh lừa của cấu trúc ngữ pháp đối với tư duy logic. Đó là cái bẫy của cấu trúc “chủ ngữ – vị ngữ” trong một số ngôn ngữ (tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Đức). Khi nói về một vật, ta bắt buộc phải dùng cấu trúc này, ví dụ, “trái táo này đỏ và ngọt.” Ở đây, “trái táo“ là chủ ngữ, còn “đỏ”, “ngọt” là các tính chất cảm tính. Vấn đề phát sinh khi cấu trúc này tạo ra một ảo tưởng rằng, nếu ta bóc tách hết các tính chất (đỏ, ngọt, giòn, tròn…) ra, thì vẫn còn lại một “thứ gì đó” gọi là “trái táo” để làm chỗ dựa cho các tính chất kia. Các nhà siêu hình học gọi cái “thứ gì đó” này là thực thể (Substance). Và hệ quả là, cấu trúc này đã phô ra sự đối lập giữa “bản thân [sự] vật“ và “tính chất của sự vật”, Ayer (và các nhà thực chứng logic) cho rằng sự phân biệt này là sai lầm. Theo họ, một sự vật thực chất chỉ là tổng thể các biểu hiện cảm tính của nó: Không có một “trái táo siêu hình” nào nằm ẩn sau các cảm giác về màu sắc, hình dáng và mùi vị.
[3] + intransitive verb ; tự động từ
[4] Xem Gặng xét lý tính ròng, phần “Biện chứng ngoài nghiệm “, Quyển II, Chương iii, tiết 4. + B626.
[5] Lập luận này được John Wisdom trình bày rất rõ ràng, trong Interpretation and Analysis, trang 62, 63. + Ví dụ, ‘D. Trump thì tồn tại’, ‘Kỳ lân thì không tồn tại’
[6] Xem Siêu hình học là gì? (Was ist Metaphysik) của Heidegger: do Rudolf Carnap phê phán trong bài viết “Vượt bỏ siêu hình học bằng phân tích logic ngôn ngữ” (Überwindung der Metaphysik durch logische Analyse der Sprache), tạp chí Erkenntnis, Tập II, 1932.
[7] + giả định khó tin về tâm lý: Chẳng lẽ những bộ óc vĩ đại như Plato, Hegel hay Heidegger lại điên rồ, kém thông minh hay cố tình lừa dối sao?
[8] Để thảo luận về điểm này, hãy xem thêm C. A. Mace, “Representation and Expression,” tạp chí Analysis, Tập I, Số 3; và “Metaphysics and Emotive Language,” tạp chí Analysis, Tập II, Số 1 và 2.
[9] + Trích: Vào một buổi sáng, khi Gregor Samsa thức dậy từ những giấc mơ bất an, anh thấy mình đã biến thành một côn trùng khổng lồ ngay trên giường. (Biến xác, Kafka)




Leave a Reply