Gilbert Ryle
Trần Đình Thắng dịch
The Concept of Mind được xuất bản lần đầu vào năm 1949 của triết gia Gilbert Ryle, trong đó tác giả lập luận rằng ‘tâm trí’ là ‘một ảo tưởng triết học bắt nguồn chủ yếu từ René Descartes và được duy trì bởi những sai lầm logic cùng các “sai lầm phạm trù” đã trở thành thói quen.
Tác phẩm này thường được trích dẫn như đã ‘đóng chiếc đinh cuối cùng vào quan tài của thuyết nhị nguyên Descartes,’ và được xem là một văn bản nền tảng trong triết học về tâm trí, vốn chỉ được công nhận chính thức như một ngành quan trọng và độc lập của triết học sau năm 1950.
Iris Murdoch từng so sánh The Concept of Mind với Being and Nothingness (1943) của Jean-Paul Sartre, với quan điểm rằng triết học phân tích Anh có cùng định hướng tổng quát với triết học lục địa. Có thể nói vắn tắt, Khái niệm về Tâm trí là một trong những tác phầm triết học vĩ đại của thế kỷ XX.

Giới thiệu
Cuốn sách này đưa ra những gì có thể tạm gọi là một lý thuyết về tâm trí. Nhưng nó không cung cấp thông tin gì mới về tâm trí. Chúng ta đã có một lượng thông tin phong phú về tâm trí, loại thông tin này không đến từ cũng không bị bác bỏ bởi các luận cứ của các nhà triết học. Các lập luận triết học cấu thành nên cuốn sách này không nhằm mục đích làm tăng thêm những gì chúng ta biết về tâm trí, mà là để điều chỉnh lại địa lý logic của sự biết của chúng ta.
Cho dù là thầy giáo hay thanh tra, quan chức địa phương hay nhà phê bình, hoặc là nhà viết sử và tiểu thuyết, hay là cha sứ giải tội hoặc lính tráng, chủ doanh nghiệp, nhân viên và đối tác, cha mẹ, người yêu, bạn bè và kẻ thù – tất cả những người này đều biết rõ cách giải quyết những câu hỏi về tính cách và đặc điểm trí tuệ của người mà họ phải tiếp xúc hàng ngày. Họ có thể đánh giá hiệu suất, theo dõi tiến bộ, hiểu lời ăn tiếng nói và hành động, nhận ra động cơ và bắt được những câu đùa của người đó. Họ biết cách sửa chữa khi sai sót. Hơn nữa, họ có thể chủ động tác động đến suy nghĩ của những người mà họ tiếp xúc bằng cách gặng xét, nêu gương, giảng dạy, trừng phạt, hối lộ, chế giễu và thuyết phục, rồi điều chỉnh cách đối xử dựa trên kết quả. Dù khi mô tả hay hướng dẫn suy nghĩ của người khác, họ vận dụng, với mức độ hiệu quả khác nhau, những khái niệm liên quan đến năng lực và hoạt động tâm lý.
Trong nhiều tình huống cụ thể, họ đã học cách áp dụng những tính từ miêu tả hành vi tâm lý như “cẩn thận”, “ngu ngốc”, “hợp lý”, “thiếu quan sát”, “khéo léo”, “kiêu ngạo”, “có phương pháp”, “dễ tin”, “hóm hỉnh”, “tự chủ” và hàng ngàn tính từ khác.
Tuy nhiên, biết cách áp dụng những khái niệm đó là một chuyện, còn biết cách liên hệ chúng với nhau và với các khái niệm khác lại là chuyện khác. Nhiều người có thể nói trôi chảy bằng các khái niệm nhưng lại không hiểu thấu đáo về chúng; họ biết cách vận dụng các khái niệm thông qua thực hành, ít nhất là trong các lĩnh vực quen thuộc, nhưng họ không thể nêu ra các quy tắc logic chi phối việc sử dụng những khái niệm này. Họ giống như những người biết đường đi lối lại trong giáo xứ của mình, nhưng không thể lập nên hoặc đọc được bản đồ của giáo xứ đó, chứ đừng nói đến bản đồ của khu vực hoặc lục địa mà giáo xứ đó toạ lạc.
Đối với một số mục đích nhất định, cần phải xác định điểm giao thoa logic giữa các khái niệm mà chúng ta biết khá rõ cách áp dụng. Nỗ lực làm việc này trên các khái niệm về chức năng (powers), hoạt động và trạng thái của tâm trí luôn đóng phần quan trọng trong nhiệm vụ của các nhà triết học. Các lý thuyết về tri thức, logic, đạo đức, chính trị và mỹ học đều là sản phẩm của những nghiên cứu của họ trong lĩnh vực này. Mặc dù một số nghiên cứu này đã đạt được những tiến bộ đáng kể ở một số khía cạnh, nhưng một trong những luận điểm chính của cuốn sách này là, trong suốt ba thế kỷ của kỷ nguyên khoa học tự nhiên, người ta đã lựa chọn sai lầm các phạm trù logic để phối hợp những khái niệm về chức năng và hoạt động tâm trí. Descartes đã để lại một huyền thoại, một di sản triết học cốt lõi, vẫn tiếp tục làm sai lệch bản đồ lục địa của chủ đề này.
Dĩ nhiên, huyền thoại không phải là một câu chuyện tưởng tượng. Nó trình bày những sự kiện thuộc một phạm trù nhất định nhưng bằng ngôn ngữ chỉ phù hợp với phạm trù khác. Do đó, việc bác bỏ một huyền thoại không phải là phủ nhận các sự kiện mà là định nghĩa, sắp xếp lại chúng. Và đó chínnh là điều tôi đang cố gắng làm.
Việc xác định bản đồ logic cho các khái niệm là để làm sáng tỏ logic của các chắt [mệnh đề] sử dụng những khái niệm này, nghĩa là, để chỉ ra chúng phù hợp hoặc không phù hợp với những chắc khác, những chắt nào có thể suy được từ chúng và từ những chắt nào có thể dẫn đến chúng. Kiểu hoặc phạm trù logic mà một khái niệm thuộc về là tập hợp các cách thức cho phép thao tác hợp lệ với khái niệm đó về mặt logic. Do đó, các luận cứ chính trong cuốn sách này nhằm mục đích chỉ ra tại sao một số loại thao tác với các khái niệm về chức năng và tiến trình tâm trí lại vi phạm các quy tắc logic. Tôi cố gắng sử dụng các lập luận phản chứng để vừa bác bỏ các thao tác được ngầm sử dụng bởi huyền thoại Descartes, vừa chỉ ra các khái niệm đang được nghiên cứu nên được xếp vào kiểu logic nào. Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng việc đôi khi sử dụng các lập luận kém chặt chẽ hơn là không phù hợp, đặc biệt khi cần có vẻ mềm mỏng hoặc thích nghi với hoàn cảnh. Triết học thay thế những thói quen phân phạm trù bằng những kỷ luật phạm trù, và nếu những thuyết phục mềm mỏng nhằm giảm bớt cơn đau khi từ bỏ những thói quen trí tuệ cố hữu, thì chúng lại không thực sự củng cố những lập luận chặt chẽ, mà chỉ làm suy yếu sự phản kháng đối với chúng.
Một số bạn đọc có thể cho rằng giọng văn của tôi trong sách này quá gay gắt. Có lẽ họ sẽ cảm thấy chút an ủi khi biết rằng những giả định mà tôi kịch liệt phản đối lại chính là những giả định mà bản thân tôi cũng từng là nạn nhân. Trước hết, tôi đang cố gắng loại bỏ một số nhầm lẫn trong hệ thống của riêng tôi. Chỉ sau đó, tôi mới hy vọng giúp các nhà lý thuyết khác nhận ra căn bệnh của chúng ta và được hưởng lợi từ phương thuốc của tôi.
GILBERT RYLE




Leave a Reply