Khái niệm về tâm trí

Gilbert Ryle

(Kỳ 2)

Trần Đình Thắng dịch

I HUYỀN THOẠI DESCARTES

(1) HỌC THUYẾT CHÍNH THỨC

Có một học thuyết về bản tính và vị trí của tâm trí rất phổ biến trong giới lý thuyết và ngay cả dân thường đến nỗi nó xứng đáng được gọi là học thuyết chính thức. Hầu hết các nhà triết học, nhà tâm lý học và các bậc thầy tôn giáo đều tán thành, với chút ít dè dặt, các luận điểm chính của học thuyết này. Mặc dù thừa nhận một số khó khăn về mặt lý thuyết, họ vãn có xu hướng cho rằng những khó khăn này có thể khắc phục được mà không cần phải sửa đổi nhiều đối với kiến trúc của lý thuyết này. Bài viết này sẽ lập luận rằng, các nguyên tắc cốt lõi của học thuyết đấy là không có cơ sở và mâu thuẫn với toàn bộ những gì chúng ta biết về tâm trí khi chúng ta không suy biện về chúng.

Học thuyết chính thức, chủ yếu bắt nguồn từ Descartes, đại khái như sau. Ngoại trừ những trường hợp đáng ngờ như người thiểu năng trí tuệ và trẻ sơ sinh, mọi người đều có cả thể xác và trí óc. Một số người lại thích nói rằng mọi người vừa là thể xác vừa là trí óc. Thể xác và trí óc gắn bó chặt chẽ với nhau, nhưng sau khi thể xác chết đi, trí óc vẫn có thể tiếp tục tồn tại và hoạt động.

Cơ thể con người tồn tại trong không gian và tuân theo các định luật cơ học vốn chi phối mọi vật thể khác trong không gian. Các tiến trình và trạng thái của cơ thể có thể được quan sát bởi những người quan sát bên ngoài. Vì vậy, đời sống thể xác của một người, giống như đời sống của động vật, bò sát và thậm chí cả sự sống của cây cối, tinh thể và hành tinh, là một vấn đề công khai.

Nhưng tâm trí không tồn tại trong không gian, và những hoạt động của nó cũng không tuân theo các định luật cơ học. Những hoạt động của một tâm trí không thể được chứng kiến bởi những người quan sát khác; vận động hành trình của nó là riêng tư. Chỉ có tôi mới có thể nhận biết trực tiếp được các trạng thái và tiến trình của tâm trí tôi. Do đó, một người sẽ sống xuyên qua hai dòng lịch sử song song, một dòng bao gồm những gì xảy ra bên trong và với cơ thể của người đó, dòng lịch sử kia bao gồm những gì xảy ra trong và với tâm trí của người đó. Dòng thứ nhất là công khai (public), dòng thứ hai là riêng tư (private). Các sự kiện trong dòng lịch sử thứ nhất là các sự kiện trong thế giới vật lý, các sự kiện trong dòng thứ hai là các sự kiện trong thế giới tâm trí.

Vẫn có ý kiến tranh cãi về việc liệu một người có thể trực tiếp theo dõi tất cả hay chỉ một vài sự kiện trong lịch sử cá nhân của mình; nhưng theo học thuyết chính thức, ít nhất đối với một số sự kiện đấy, người đó có thể nhận biết trực tiếp và không thể bác bỏ được điều này. Trong ý thức, tự ý thức (self-consciousness) và nội quan, người ấy được thông báo trực tiếp và xác thực về những trạng thái và hoạt động hiện tại của tâm trí mình. Họ có thể không chắc chắn nhiều hay ít về các diễn biến đồng thời và liền kề trong thế giới vật lý, nhưng họ vẫn có thể chắc chắn ít nhất phần nào về những gì hiện đang chiếm giữ tâm trí của họ.

Ta thường diễn đạt sự phân hai cuộc sống và hai thế giới như sau: sự vật và sự kiện thuộc về thế giới vật lý, bao gồm cả cơ thể của chính ta, là bên ngoài, trong khi hoạt động tâm trí thì diễn ra bên trong. Sự đối lập giữa bên ngoài và bên trong này dĩ nhiên nên hiểu như một ẩn dụ, bởi vì tâm trí, không tồn tại trong không gian, do đó ta không thể mô tả tâm trí là nằm bên trong bất cứ thứ gì về mặt không gian, hoặc là có những hoạt động diễn ra bên trong chính tâm trí về mặt không gian. Nhưng sự chệch khỏi ý định tốt đẹp này là phổ biến. Các nhà lý thuyết thường suy đoán làm thế nào các nguồn kích thích vật lý của chúng nằm cách xa da thịt của một người hàng mét hoặc hàng dặm, lại có thể tạo ra phản ứng tâm trí bên trong hộp sọ của người đó, hoặc làm thế nào các quyết định được hình thành bên trong sọ của người đó lại có thể đưa đến chuyển động của các chi.

Ngay cả khi “bên trong” và “bên ngoài” được hiểu là cách nói ẩn dụ, vấn đề về cách tâm trí và cơ thể của con người ảnh hưởng lẫn nhau vẫn đầy rẫy những khó khăn trên lý thuyết. Những gì tâm trí muốn, chân tay và lưỡi sẽ thực hiện; những gì tác động đến tai và mắt thì sẽ liên quan đến những gì tâm trí cảm nhận; những nét mặt nhăn nhó và nụ cười phản bội tâm trạng của tâm trí và những hình phạt thể xác được cho là sẽ dẫn đến sự tiến bộ đạo đức. Nhưng những tương tác thực tế giữa các sự kiện trong lịch sử cá nhân và lịch sử công khai vẫn còn bí ẩn, vì theo định nghĩa, chúng không thể thuộc về bất kỳ lịch sử nào trong hai lịch sử đó. Chúng không thể được ghi nhận trong số những diễn biến được mô tả trong đời sống bên trong của một người, nhưng cũng không thể được ghi nhận trong số những sự kiện được mô tả trong đời sống công khai của người đó. Chúng không thể được kiểm tra bằng cách tự quan sát hay bằng thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Chúng là những quả cầu lông lý thuyết, liên tục được các nhà sinh lý học và tâm lý học đánh qua đập lại.

Sâu kín bên dưới hình ảnh mang tính ẩn dụ phần nào về sự phân thành hai cuộc sống của một người là một giả định triết học sâu xa hơn. Người ta cho rằng có hai loại tồn tại hoặc trạng thái khác nhau. Những gì tồn tại hoặc xảy ra thì có thể có trạng thái của tồn tại vật lý, hoặc trạng thái của tồn tại kiểu tâm trí. Tựa như hai mặt của đồng xu là sấp hoặc ngửa, hoặc như sinh vật là đực hoặc cái, người ta cho rằng, một số kiểu tồn tại là vật lý, một số khác là tồn tại kiểu tâm trí. Đặc điểm tất yếu của tồn tại vật lý là nó tồn tại trong không gian và thời gian; đặc điểm tất yếu của loại tồn tại kiểu tâm trí là nó tồn tại trong thời gian nhưng trong không gian thì không. Cái tồn tại về mặt vật lý thì được cấu tạo từ vật chất, hoặc là một chức năng của vật chất; loại tồn tại kiểu tâm trí thì bao gồm ý thức, hoặc là một chức năng của ý thức.

Như vậy, có một sự đối lập hoàn toàn giữa tâm trí và vật chất, và thường được giải thích như sau. Các đối tượng vật chất đều nằm trong một trường chung gọi là ‘không gian’, và những gì xảy ra với một vật thể ở phần không gian này thì có liên hệ cơ học với những gì xảy ra với các vật thể khác ở các phần không gian khác. Nhưng các sự kiện tâm trí xảy ra trong các phạm vi riêng biệt, được gọi là ‘tâm trí’. Có lẽ, ngoại trừ thần giao cách cảm, không có mối liên hệ nhân quả trực tiếp nào giữa những gì xảy ra trong tâm trí này và những gì xảy ra trong tâm trí khác. Chỉ thông qua trung gian của thế giới vật lý công khai, tâm trí của một người mới có thể tạo ra sự khác biệt đối với tâm trí của người khác. Tâm trí là nơi chốn riêng biệt của nó và trong đời sống bên trong của mình, mỗi chúng ta sống cuộc đời của một Robinson Crusoe ma quái. Mọi người có thể nhìn, nghe và chạm vào cơ thể của nhau, nhưng họ mãi mãi nào mù và điếc trước những hoạt động của tâm trí người khác và không thể tác động đến chúng.

Thế thì, loại hiểu biết nào có thể được nắm bắt được hoạt động của tâm trí? Một mặt, theo lý thuyết chính thức, một người luôn biết trực tiếp về loại hoạt động dễ hình dung nhất của chính tâm trí mình. Các trạng thái và tiến trình tâm trí là (hoặc thường là) các trạng thái và tiến trình ý thức, và ý thức đưa đến chúng không thể tạo ra ảo tưởng nào, không để ngỏ cho bất kỳ nghi ngờ nào. Những suy nghĩ, cảm xúc và ý muốn hiện tại của một người, những nhận thức, ký ức và tưởng tượng của người đó vốn dĩ “phát sáng”; sự tồn tại và bản chất của chúng chắc chắn được hé lộ cho chủ nhân của chúng. Đời sống bên trong là một dòng ý thức đến mức thật vô lý khi cho rằng tâm trí mà cuộc sống của nó là dòng chảy đó lại không nhận thức được những gì đang diễn ra trong đó.

Đúng vậy, chứng cứ được Freud đưa ra gần đây dường như cho thấy có những nhánh rẽ dẫn đến dòng ý thức này, nhưng chúng lại ẩn khuất khỏi tầm nhìn của chủ nhân. Con người bị chi phối bởi những xung động mà họ kịch liệt phủ nhận sự tồn tại của chúng; một số suy nghĩ của họ khác với những suy nghĩ mà họ thừa nhận; và một số hành động mà họ nghĩ rằng họ muốn thực hiện thì thực ra họ không muốn. Họ hoàn toàn bị lừa bởi những suy nghĩ đạo đức giả của chính mình và họ thành công trong việc phớt lờ những sự thật về đời sống tâm trí của họ mà theo lý thuyết chính thống, lẽ ra phải hiển nhiên đối với họ. Tuy nhiên, những người theo lý thuyết chính thống có xu hướng cho rằng, dù sao đi nữa, trong hoàn cảnh bình thường, một người phải nắm bắt một cách trực tiếp và xác thực được trạng thái và hoạt động hiện tại của tâm trí mình.

Ngoài việc hiện tại được cho là có những dữ liệu trực tiếp của ý thức, một người cũng thỉnh thoảng được cho là có khả năng thực hành một loại nhận thức đặc biệt, đó là nhận thức vào trong, hay sự nhìn vào trong [nội tỉnh/quan]. Anh ta có thể “nhìn” (không phải bằng mắt) những gì đang diễn ra trong tâm trí mình. Không chỉ có thể nhìn và xem xét kỹ một bông hoa bằng mắt hay lắng nghe và phân biệt các tiếng chuông bằng tai; anh ta còn có thể chăm chú theo cách phản tỉnh hoặc nhìn vào trong những diễn biến hiện đang xảy ra trong đời sống bên trong của mình mà không cần bất kỳ cửa biết [giác quan] nào của cơ thể. Việc tự quan sát này cũng thường được cho là miễn nhiễm với ảo tưởng, nhầm lẫn hoặc nghi ngờ. Mức chắc chắn trong việc tâm trí kể lại các sự kiện của chính nó thì cao hơn mức chắc chắn cao nhất trong việc kể lại các sự kiện trong thế giới vật lý. Nhận thức cảm quan có thể sai sót hoặc nhầm lẫn, nhưng ý thức và sự nhìn vào trong thì không thể.

Mặt khác, một người không thể tiếp cận trực tiếp đến các sự kiện trong đời sống bên trong của người khác. Bằng cách loại suy từ chính hành vi của mình, anh ta không thể làm gì hơn ngoài việc đưa ra những suy luận mơ hồ từ hành vi cơ thể quan sát được của người khác để suy đoán rằng hành vi đó biểu thị cho những trạng thái tâm trí nào. Tiếp cận trực tiếp những hoạt động của một tâm trí là đặc quyền của chính tâm trí đó; thiếu đi sự tiếp cận đặc quyền như vậy, hoạt động của một tâm trí nào đó chắc chắn sẽ bí ẩn đối với tất cả những người khác. Bởi vì không thể xác nhận được bằng quan sát đối với những lập luận giả định: từ các chuyển động cơ thể tương tự như của họ thì có thể suy ra những hoạt động tâm trí cũng sẽ tương tự như của họ. Do đó, không có gì lạ khi ai đó tin vào lý thuyết chính thống khó có thể cưỡng lại kết luận này từ tiền đề của mình, đấy là, anh ta không có đủ lý do để tin là có những tâm trí khác ngoài tâm trí của chính mình. Ngay cả khi anh ta muốn tin rằng kết nối với các cơ thể người khác cũng có những tâm trí không khác gì tâm trí của mình, thì anh ta cũng không thể khẳng định việc khám phá ra các đặc điểm riêng biệt của chúng, hoặc những sự việc cụ thể mà chúng trải qua và làm. [Do đó], số phận không thể tránh khỏi của linh hồn là sự cô lập tuyệt đối. Chỉ có thể xác của chúng ta mới gặp nhau.

Như một kết quả tất yếu của lược đồ tổng quát này, ngầm định rằng phải có một cách diễn giải đặc biệt về các khái niệm thông thường về chức năng và hoạt động tâm trí của chúng ta. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta dung động từ, danh từ và tính từ để mô tả đàu óc, tính cách và những hành vi bậc cao của những người mà chúng ta tiếp xúc. Những từ này được đòi hỏi là để giải thích những sự kiện đặc biệt trong lịch sử riêng tư của họ, hoặc xu hướng xảy ra những sự kiện đó. Khi ta cho rằng ai đó biết, tin hoặc đoán điều gì đó, rằng người đó hy vọng, lo sợ, mong muốn hoặc né tránh điều gì đó, rằng người đó lên kế hoạch cho việc này hoặc cảm thấy thích thú với việc kia; những động từ này được cho là chỉ ra sự xuất hiện của những thay đổi cụ thể trong dòng ý thức bí ẩn (đối với chúng ta) của người đó. Chỉ có sự tiếp cận đặc quyền của chính người đó với dòng ý thức này, thông qua nhận thức trực tiếp và nội tỉnh, mới có thể cung cấp chứng cứ đáng tin rằng những động từ chỉ hành vi tâm trí này (mental-conduct) đã được áp dụng đúng hay sai. Kẻ quan sát này, dù là người thầy, nhà phê bình, người viết tiểu sử hay bạn bè, vẫn không bao giờ có thể chắc chắn những nhận xét của mình có chút sự thật nào. Thực ra, chính vì chúng ta đều biết cách đưa ra những nhận xét như vậy, nói chung là chính xác và sửa chữa khi chúng trở nên mơ hồ hoặc sai sót, cho nên các nhà triết học thấy rằng cần thiết phải xây dựng các lý thuyết của họ về bản chất và vai trò (places) của tâm trí. Khi thấy các khái niệm về hành vi tâm trí đang được sử dụng thường xuyên và hiệu quả, họ đã tìm cách xác định địa lý logic của chúng. Tuy nhiên, địa lý logic do học thuyết chính thức đề xuất sẽ dẫn đến việc không thể sử dụng thường xuyên và hiệu quả các khái niệm về hành vi tâm trí này trong các mô tả và hướng dẫn của chúng ta về tâm trí của người khác.

(nháp 0.1)

Leave a Reply

Sạn & Sỏi

Lặt vặt

Tác giả

300 Năm Kant A.J.Ayer AI Austin Book Hunter Bảo Tích Chalmers Cách ngôn Câu hỏi lớn Dịch Einstein Emmanuel Gặng xét Heidegger Hy Lạp IRED Kant Khoa học Kripke Logic Nagel Nguyễn Hữu Liêm Nguyễn Trung Kiên Nguyễn Xuân Xanh NXB Tri Thức Phân Tích Phật giáo Popper Quine Russell Ryle Schopenhauer Stroll Sạn Tarski Tractatus Triết học ngôn ngữ Triết học phân tích Triết học Phật giáo Triết học tâm trí Trí năng người tạo Trần Thị Điểu Trần Đình Thắng Wittgenstein Đỗ Quốc Bảo

Discover more from Triết Vui

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading