Avrum Stroll; Trần Đình Thắng dịch (nháp 0.1)

(tiếp kỳ 1)

Câu hỏi về quan hệ giữa khoa học và triết học lại dẫn đến một tương phản quan trọng khác. Đó là câu hỏi được tranh luận rộng rãi trong thế kỷ XX — liệu có nên dành riêng triết học cho việc xây dựng các lý thuyết về thế giới và những đặc điểm khác nhau của nó hay không. Cuộc tranh luận này, từ một góc độ nào đó, đã cắt ngang (xoá bỏ) sự phân biệt giữa xim khoa học và tính tự trị, bởi vì cả những người theo xim khoa học lẫn những người phản đối nó (chẳng hạn như các nhà siêu hình học truyền thống) đều cho rằng triết học nên bắt tay vào việc xây dựng lý thuyết. Tuy nhiên, cũng có những người ủng hộ các hình thức của xim khoa học và những người phản đối nó đều phủ nhận việc lý thuyết hóa triết học. Wittgenstein có lẽ là ví dụ nổi bật nhất trong số các triết gia từng ủng hộ xim khoa học trong giai đoạn đầu — với tác phẩm Tractatus năm 1922 — và từ bỏ điều này trong các trước tác sau này, như Những Tìm Sâu Triết Học (Philosophical Investigations) xuất bản năm 1953. Dẫu vậy, từ đầu đến cuối, ông luôn bác bỏ quan niệm cho rằng mục đích của triết học là xây dựng lý thuyết. Trong Tractatus, chẳng hạn, ông viết: “Triết học không phải là lý thuyết, mà là hoạt động” (4.112). Gần như cùng những lời lẽ ấy có mặt trong Investigations: “Đúng là không thể xem những tìm sâu của ta là những tìm sâu khoa học.… Và ta sẽ không đưa ra bất kỳ loại lý thuyết nào.… Tất cả giải thích phải biến mất, và thay thế chúng chỉ duy bằng mô tả.” (1958:109)

Hai phân biệt này (xim khoa học sv. tính tự trị, lý thuyết hóa và phi lý thuyết hoá) đặt ra một vấn đề sâu sắc mà ta sẽ xem xét kỹ lưỡng trong nghiên cứu này: Triết học là gì? Nhiệm vụ của triết học là gì? Nếu triết học không phải là một trong những bộ môn khoa học tự nhiên, thì nó nên đem lại loại thông tin, soi sáng (illumination), và hiểu biết nào? Trong cái gọi là phong trào triết học chẻ chia, đây là một trong những vấn đề gay gắt nhất liên quan đến đường lối (point) và mục đích của những người làm triết.

Một điều chúng ta chắc chắn đã học được từ việc nghiên cứu phong trào này là: triết học chẻ chia đương đại gắn bó chặt chẽ với lịch sử của chính nó. Về mặt này, nó giống với lịch sử và văn học hơn là khoa học, mặc dù nó cũng có những khác biệt quan trọng với khoa học. Tuy nhiên, sự tương phản với khoa học là nổi bật hơn. Lý do cho điều này khá phức tạp. Một phần là do sự khác biệt giữa những hoạt động liên quan đến kinh nghiệmkhái niệm. Hầu hết các nhà khoa học ngày nay không còn quan tâm đến vũ trụ luận của Aristotle. Những vấn đề của ông vốn có thể xử lý bằng thực nghiệm, thì nay đã được giải quyết. Những vấn đề mang tính siêu hình thì vẫn không thể tiếp cận bằng lối chẻ chia khoa học, và thậm chí hoàn toàn không thể giải quyết được. Những khám phá ban đầu của Galileo và Newton cũng không còn là mối quan tâm hàng đầu của khoa học, vì chúng đã được đưa vào các bước tiến hành nghiên cứu thông thường. Được đưa vào [áp dụng] như vậy, khoa học tiếp tục tiến lên mà không cần phải nhớ đến những người đi trước.

Nhưng triết học thì khác. Plato và Aristotle chưa bao giờ “chết”, [dù] các tư tưởng của họ đã trở thành một phần không thể tách rời trong thực tiễn ngày nay. Chúng ta vẫn đọc Thucydides và Gibbon để hiểu về việc sử dụng và lạm dụng quyền lực chính trị, và vẫn tìm đến Shakespeare và Jane Austen để đi sâu vào những bừng sáng (insights) sâu sắc của bản tính con người. Mặc dù ngày nay thường xuyên nhắc đến “triết học khoa học”, nhưng không nghi ngờ gì nữa, triết học về thực chất là một hoạt động nhân văn. Điều này thể hiện rõ qua mối liên hệ của nó với quá khứ. Dù hầu hết các triết gia chẻ chia không chuyên chú vào việc chú giải văn bản cổ, [nhưng] những vấn đề do các nhà tư tưởng đáng trọng này đặt ra vẫn sống động như hàng thế kỷ trước. Nhiều câu hỏi mà ta đang đối mặt ngày nay đã có từ rất lâu: Làm thế nào để có thể nói một cách có nghĩa/đúng thật  (meaningfully/truly) về cái không tồn tại? Làm sao có thể nhất quán bác bỏ sự tồn tại của một cái gì đó? Làm thế nào mà hai câu thực sự nói về cùng một thứ song lại có thể khác nhau về ý nghĩa? Liệu “tồn tại” có phải là một thuộc tính?

Dù có nguồn gốc từ xa xưa, tất cả những câu hỏi này vẫn giữ vai trò trung tâm trong công trình của Gottlob Frege, Bertrand Russell, Saul Kripke và Quine, ở đây chỉ kể ra một vài cái tên. Vậy ta có nên kết luận rằng triết học không hề có tiến bộ? Tôi nghĩ là không nên. Nhưng nếu có tiến bộ, thì sư tiến bộ này không giống như tiến bộ trong khoa học, vốn thường có được những lời giải xác định, rõ ràng (definite). Tuy nhiên, triết học vẫn trưng ra một kiểu tiến triển: có những cải tiến trong những kỹ thuật được sử dụng và những phương thức (schemes) mới để giải quyết các vấn đề truyền thống. Vì vậy, theo một nghĩa khó diễn đạt, lĩnh vực triết học hiện đại vừa quen thuộc lại vừa xa lạ; chúng ta dường như nhận ra nó là vùng đất đã từng đi qua, nhưng giờ đây nó lại trông rất khác.

Do đó, thật khó để trả lời câu hỏi về sự tiến bộ này nếu không làm rõ vai trò của quá khứ trong triết học chẻ chia đương đại. Khi gắng tìm một cách nói để vẽ ra mối quan hệ phức tạp này, ban đầu tôi nghĩ sẽ gọi chương này là “bình cũ rượu mới” (New Wine in Old Wineskins). “Rượu mới” sẽ là triết lý được tôi mô tả trong cuốn sách này, và “bình cũ” sẽ là truyền thống từ Hy Lạp [cổ đại], thường đặt ra các vấn đề và đôi khi phác thảo các giải pháp cho chúng. Nhưng phép so sánh này không hoàn toàn chính xác. Triết học đương đại có lẽ là rượu mới, nhưng triết học truyền thống không phải là bình cũ. Bạn có thể uống rượu nhưng không thể uống cái bình. Chúng ta cần một hình ảnh (conceit), trong đó triết học truyền thống giống như rượu cũ hòa quyện với rượu mới. Tôi gợi ý một phép so ví nắm bắt mối quan hệ này. Những người làm rượu sherry gọi đó là “hệ thống ngâm ủ rượu” (solera system).

Trong cuốn Bách khoa toàn thư về Rượu vang và Rượu mạnh, Alexis Lichine đã mô tả như sau:

Điều thú vị nhất về Sherry (ngoài lớp men bí ẩn gọi là flor) chính là hệ thống độc đáo giúp nó được bảo trì tốt nhất. Rượu Sherry lâu năm, rất ngon có khả năng “dạy dỗ” (educate) và làm tăng phẩm chất những loại rượu mới hơn. Chính vì vậy, rượu vang lâu năm được ủ trong những thùng gỗ lâu đời nhất, mà người làm rượu gọi là solera. Đây là một dãy các thùng được phân loại theo độ tuổi. Mỗi dãy thùng gồm những thùng gỗ y hệt nhau. Loại lâu đời nhất trong một [hệ thống?] solera được gọi là Solera. Loại lâu năm tiếp theo là Criadera mẻ đầu, tiếp theo là Criadera thứ hai, v.v. Khi rượu được rút ra từ Solera, thf cùng một lượng rượu cũng được rút ra từ mỗi thùng. Sau đó, bắt đầu hệ thống tăng dần (luỹ tiến), trong đó mẻ Solera được rót trở lại bằng mẻ Criadera đầu tiên, rồi đến mẻ Criadera thứ hai, v.v. Kết quả kỳ diệu của hệ thống này là những thùng gỗ lâu đời nhất luôn giữ được phẩm chất không đổi. Ví dụ, một thùng rượu năm 1888 có thể chỉ còn giữ lại được một chút hương vị của đợt đầu; nhưng mỗi thùng rượu được rót trở lại qua nhiều năm sẽ được ủ theo chất lượn của đợt rượu năm 1888, và những lần rót tiếp theo cũng sẽ được ủ theo cùng một tiêu chuẩn. Nhờ hệ thống này, không chỉ giữ phẩm chất và đặc tính của rượu vang qua nhiều năm, mà còn giúp giữ cho rượu vang Fino không bị mất đi độ tươi bằng cách liên tục làm mới các loại rượu Fino bằng rượu vang non tuổi hơn. (1971:492)

Trong hệ thống đi ống và thùng này, chúng ta tìm thấy một cách để mô tả quan hệ giữa triết học xưa truyền (truyền thống) và đương đại. Mượn lời của Lichine, ta có thể nói rằng triết học cũ có sức mạnh “dạy dỗ” và mở mang (improve) triết học mới. Triết học mới không chỉ giữ lại phẩm chất và đặc điểm của triết học cũ mà còn có khả năng làm mới nó. Do đó, sự pha trộn, gìn giữ và làm mới là những đặc điểm sẽ xác định mối quan hệ giữa triết học hiện tại và lịch sử của nó. Song câu hỏi đặt ra là liệu so ví solera có ăn khớp với thực tế hay không. Liệu triết học chẻ chia thế kỷ 20 có giống như rượu mới? Hay nó giống như rượu cũ đã mất đi sự tươi tắn?

Vấn đề càng trở nên phức tạp hơn bởi khó khăn trong việc đưa ra một đép (định nghĩa) chính xác cho “triết học chẻ chia” bởi vì nó không hẳn là một học thuyết cụ thể mà là một chuỗi kết nối lỏng lẻo các cách tiếp cận với những vấn đề. Thế kỷ này bắt đầu với cuốn sách Nguyên lý Luân lý học  (Principia Ethica, 1903) của G. E. Moore, nhấn mạnh tầm quan trọng của “chẻ chia” trong nỗ lực tìm hiểu tính chất của việc lý giải về đạo đức. Moore lập luận rằng cụm về (vị từ) “tốt”, vốn để xác định phạm vi của luân lý học (ethics), là “đơn giản, không chẻ chia được, không định nghĩa được” (trang 37). Ông lập luận rằng, rất nhiều khó khăn trong luân lý học, và rộng hơn là trong triết học nói chung, phát sinh từ việc “cố trả lời các câu hỏi mà trước tiên không khám phá chính xác câu hỏi nào mà bạn muốn trả lời”. Do đó, các câu hỏi cần được “chẻ chia” để làm rõ và hiểu ý nghĩa của chúng. Chuyên luận của Moore chắc chắn đã khiến những người cùng thời và hầu hết những người tiếp bước ông nhận thức được liệu những câu hỏi họ đặt ra và các loại câu trả lời họ đưa ra có thoả đáng hay không.

Song, nếu cho rằng khái niệm triết học chẻ chia bắt đầu từ Moore thì đấy là một cách hiểu sai về lịch sử. Truyền thống chẻ chia có lịch sử lâu đời hơn nhiều, bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại. Ví dụ, trong Sách I và II của Nhà Nước Lý Tưởng[1], có thể xem Socrates đang cố gắng nắm bắt ý nghĩa thông thường của khái niệm công lý (justice). Phương pháp biện chứng của Socrates, bao gồm các định nghĩa được đề xuất và các phản ví dụ tương ứng, cùng với các bước cố gắng nhằm đi đến bản chất của “công lý”, thì không khác gì mấy so với cách tiếp cận khái niệm “tốt”của Moore trong Principia Ethica liên quan. Những nhận xét tương tự cũng có thể áp dụng cho việc Aristotle mô tả chân lý trong Siêu hình học, điều này báo trước khái niệm ngữ nghĩa của Alfred Tarski trong “Khái niệm Chân lý trong Ngôn ngữ Hình thức[2] năm 1935. Trong các tác phẩm đồ sộ của David Hume rất dễ nhận thấy những đường nét (streak) chẻ chia, chẳng hạn qua cách thức ông giải thích khái niệm nhân quả. Do đó, có thể nói rằng chẻ chia luôn là một phần không thể thiếu của thực hành triết học.

Ngay cả đến nay, vẫn chưa có đồng thuận về việc “chẻ chia” là gì. Lịch sử của chủ đề này đầy rẫy những định nghĩa khác nhau. Trong cuốn “Về Nguyên tử Logic” (“Logical Atomism”), xuất bản năm 1924, Bertrand Russell viết:  

 “Theo tôi, công việc của triết học về cơ bản là chẻ chia logic, kế đến là tổng hợp logic… Phần quan trọng nhất [của triết học] nằm ở việc gặng xét (phê phán) và làm rõ những khái niệm thường được coi là cơ bản và được chấp nhận theo cách thiếu gặng xét” (1956:341).

C. D. Broad coi triết học chẻ chia là một loại khoa học:

 “Do đó, vừa có như cầu vừa có không gian để hình thành một ngành khoa học. Ngành này sẽ chẻ chia và định nghĩa các khái niệm được dùng trong đời sống hàng ngày và trong các bộ môn khoa học cụ thể” (1924:78–79).

Trong Nguồn gốc của triết học chẻ chia (Origins of Analytical Philosophy, 1993), Michael Dummett đưa ra một đặc điểm gồm hai phần:

 “Triết học chẻ chia có nhiều cách biểu đạt khác nhau, nhưng điều khiến nó khác biệt với các học phái khác là niềm tin rằng: thứ nhất, thông qua việc giải thích triết học về mặt ngôn ngữ, ta có thể đạt được sự giải thích tư tưởng về mặt triết học[1]; thứ hai, chỉ bằng cách này mới có thể đạt được một sự giải thích toàn diện (comprehensive).” (trang 4).

 “Triết học chẻ chia có nhiều cách biểu đạt khác nhau, nhưng điều khiến nó khác biệt với các học phái khác là niềm tin rằng: thứ nhất, thông qua việc giải thích triết học về mặt ngôn ngữ, ta có thể đạt được sự giải thích tư tưởng về mặt triết học[1]; thứ hai, chỉ bằng cách này mới có thể đạt được một sự giải thích toàn diện (comprehensive).” (trang 4).

Hai thảo luận gần đây và sâu rộng nhất về khái niệm này có mặt trong tác phẩm “Vị trí của Wittgenstein trong Triết học Chẻ chia Thế kỷ XX” (1996) của P. M. S. Hacker, và trong bài phê bình của Hans Sluga về cuốn sách đó, “Lịch sử liên quan gì đến tôi? Wittgenstein và Triết học Chẻ chia”, đăng trên tạp chí Inquiry năm 1998. Hacker đưa ra một khảo sát ngắn về cách sử dụng hiện đại của khái niệm này (“chẻ chia”) và nêu lên một số phân biệt có tính soi sáng, chẳng hạn như phân biệt giữa chẻ chia logic và chẻ chia khái niệm, giữa chẻ chia kiểu rút gọn (reductive) và chẻ chia kiểu kiến tạo (constructive). Cuối cùng, ông chọn cách hiểu tơm “chẻ chia” theo nghĩa thông thường của nó — tức là “phân giải (decomposition) một thứ gì đó thành các thành phần cấu thành”. Như ông giải thích:

Chẻ chia (phân tích) hóa học sẽ hé lộ thành phần của các hợp chất hóa học từ các nguyên tố hóa học cấu thành chúng; chẻ chia vật lý vi mô sẽ đi sâu vào thành phần hạ nguyên tử của vật chất, hé lộ những nguyên tố cuối cùng cấu thành nên mọi vật chất. Chẻ chia triết học cũng ấp ủ những tham vọng tương tự trong lĩnh vực ý tưởng hoặc khái niệm, vốn là mối quan tâm của triết học. Theo đó, tôi coi những cố gắng của các nhà duy nghiệm cổ điển Anh là một dạng tâm lý học của triết học chẻ chia, bởi họ tìm cách chẻ chia những ý tưởng phức thành những thành phần đơn [giản của chúng]. Họ tin rằng phương pháp chẻ chia này không chỉ làm sáng tỏ những ý tưởng phức đang gây tranh cãi, mà còn làm sáng tỏ nguồn gốc của những ý tưởng [của chúng ta], cũng như nguồn gốc và giới hạn của sự biết hiểu của con người. Tháo rời khái niệm “chẻ chia” để xem xét, triết học chẻ chia thế kỷ XX khác biệt với nguồn gốc [của nó] vì nó không còn định hướng theo tâm lý học.

(Hacker 1998:3–4)

Bài luận của Sluga mở đầu bằng một thảo luận dài về ý nghĩa của “triết học chẻ chia”. Sau khi đánh giá cẩn thận các góc nhìn (options) lịch sử khác nhau, ông tóm tắt như sau:

Kết luận của tất cả những điều này là: có lẽ việc cố gắng xác định bản chất của triết học chẻ chia là vô vọng. Triết học chẻ chia nên được mô tả như những chồng chéo các nét họ hàng giống nhau (family resemblances), cùng các quan hệ nhân quả của “ảnh hưởng” lan tỏa theo mọi hướng — và chắc chắn vượt ra ngoài những đường ranh mà ta hy vọng có thể vạch ra. Vì vậy, câu hỏi của chúng ta không nên là: Chính xác điểm chung nào mà tất cả các triết gia chẻ chia đều có? Thay vào đó: Làm thế nào để vạch những đường ranh một cách tự nhiên và có ích nhất của triết học chẻ chia, và tơm này sẽ được dùng ra sao khi ta vạch những đường ranh theo cách này thay vì cách khác? (tr. 107)

Tôi nghĩ Sluga đã đúng khi nói rằng “cố gắng xác định bản chất của triết học chẻ chia có lẽ là vô vọng”.  Hầu như mọi định nghĩa đưa ra đều bị các học giả phản bác. Sau đây là một số định nghĩa bị bác bỏ: chẻ chia là bộ môn khoa học – các khái niệm được chẻ chia là những khái niệm được chấp nhận một cách thiếu gặng xét – chẻ chia tìm cách đưa ra một lý giải triết học về tư duy –Những gì đang được tìm kiếm là một lý giải toàn diện về bất cứ thứ gì – hoặc, “chẻ chia “, như Hacker lập luận, luôn luôn là sự chẻ nhỏ (phân rả, decomposition) một khái niệm thành các thành tố nhỏ hơn. Về điểm cuối cùng này, J. L. Austin lý giải trong bài viết “Ba cách làm đổ mực[1] về sự khác biệt giữa làm cái gì đó theo cách cố ý (intentionally), có suy tính (deliberately), hay có chủ đích (on purpose).  Đấy là một ví dụ về việc chẻ chia khái niệm “trách nhiệm” mà không nhằm chẻ nhỏ khái niệm đó thành các thành phần cấu tạo. Những hành động như vậy không phải là “thành phần” của trách nhiệm, khác với cách mà các nguyên tử hydro và oxy là thành phần của một phân tử nước.

Chúng ta hãy chấp nhận gợi ý của Sluga, với một chút sửa đổi theo Moore, nghĩa là, ta đang xử lý [một] khái niệm nét họ hàng giống nhau (family resemblance). Nhiều học giả sẽ đồng ý với Sluga rằng không có một đặc điểm duy nhất nào có thể đặc trưng cho toàn bộ hoạt động của những người thường được gọi là triết gia chẻ chia. Tuy nhiên, hầu hết các nhà luận bàn hẳn đồng ý với Moore rằng, dù công trình của mỗi học giả có khác nhau đến đâu, thì chúng đều hướng đến việc làm rõ ý nghĩa của một số khái niệm nhất định, chẳng hạn như “sự biết hiểu”, “niềm tin”, “chân lý” và “chứng minh” (justification). Giả định soi đường (chỉ đạo) cho sự nhấn mạnh này là ta không thể đưa ra đánh giá sáng suốt một luận đề đề ra nào nếu chưa hiểu rõ và các khái niệm cấu thành nên luận đề ấy. Đây chính là điều mà Moore xem là chức năng cốt lõi của chẻ chia. Song có nhiều cách khác nhau để theo đuổi mục đích đó, từ cách tiếp cận hình thức chặt chẽ của Frege hay Tarski cho đến kỹ thuật làm rõ qua các ví dụ mang tính cách ngôn của Wittgenstein già. Do đó, thay vì cố gắng định nghĩa khái niệm “chẻ chia” bằng cách tìm kiếm một vài đặc điểm chung được phô ra qua mọi tìh huống của triết học chẻ chia, tôi sẽ xoáy vào những đóng góp của một nhóm người thường được xem là các triết gia chẻ chia. Nhóm này bao gồm Gottlob Frege (1848–1925), Bertrand Russell (1872–1970), G. E. Moore (1873–1958), Ludwig Wittgenstein (1889–1951), Rudolf Carnap (1891–1970), J. L. Austin (1911–1960), Gilbert Ryle (1900–1976) và W. V. O. Quine (1908–). Không phải tất cả các nhà luận bàn đều đồng ý về việc ai nên được đưa vào danh sách này. Ví dụ, Hacker cho rằng Quine không phải là một triết gia chẻ chia. Tuy nhiên, đây chỉ là góc nhìn của số ít và phần lớn các nhà luận bàn sẽ xếp Quine vào nhóm này.

Hầu hết những thành tựu lớn trong lĩnh vực này đều nhờ những con người đấy. Họ là những người khởi đầu các học thuyết, phong cách, cách tiếp cận hoặc góc nhìn triết học, sau đó được hệ thống hóa (codified) và hình thành gần như tương đương các học phái. Những cách tiếp cận này tạo ra xu hướng và thu hút đông đảo người theo. Trong số các học thuyết của thế kỷ 20 có thuyết nguyên tử logic, triết học đời thường, xim thực dụng, triết học ngôn ngữ đời thường, xim thực chứng logic và khái niệm ngữ nghĩa về chân lý. Nhiều nhà tư tưởng trong số này đã chuyển đổi hoặc mở rộng các xưa truyền cũ theo những cách mới (ví dụ, xu hướng kinh nghiệm chỉnh thể của Quine), nhưng một số (ví dụ, Austin) đã phát triển những con đường mới và độc đáo cho các vấn đề triết học. Không còn nghi ngờ gì nữa, triết gia có ảnh hưởng nhất của thời đại này là Wittgenstein (1889–1951). Trước tác của ông – hầu hết chỉ được xuất bản sau khi ông qua đời – đã chi phối các xu hướng (scene) đương thời  và dường như sẽ giữ vai trò trung tâm trong tương lai gần. Do đó, một cách hiệu quả để khảo sát giai đoạn này là xoáy vào (tập trung) những đóng góp của những con người lỗi lạc này. Tôi sẽ trình bày theo trình tự thời gian. Nhưng cần nói thêm rằng, từ những năm 1930 đến nay, nhiều nhà tư tưởng khác cũng đã có những đóng góp đáng kể. Những nhà tư tưởng này bao gồm Karl Popper, P. F. Strawson, Roderick Chisholm, Donald Davidson, David Lewis, Hilary Putnam, Ruth Barcan Marcus, Paul và Patricia Churchland, John Searle, Zeno Vendler, Tarski, Bouwsma, Dummett và Kripke. Danh sách này chắc chắn chưa đầy đủ. Dù tôi sẽ đề cập đến một vài tác phẩm, đáng tiếc là do giới hạn về số lượng chữ (space), tôi không thể đề cập đến tác phẩm của từng người được. Tìm sâu (nghiên cứu) này không hẳn là một khảo sát về giai đoạn này, mà là một phác hoạ về một vào ý tưởng triết học mà tôi cho là cốt lõi trong thế kỷ XX.

Sự ra đời của logic ký hiệu (hay logic toán học) có lẽ là bước phát triển quan trọng duy nhất trong thế kỷ này. Bên cạnh giá trị vốn có (intrinsic interest) cùng với tác động của nó đối với khoa học máy tính và trí năng nhân tạo, nó còn có ảnh hưởng sâu rộng đến chính triết học (per se). Mặc dù các nhà Kiềm Mình (Khắc kỷ, Stoics) đã dự đoán về loại logic này, nhưng những dạng hiện đại của nó lại khác biệt đáng kể so với tư tưởng phương Tây. Những thành tựu như vậy không dễ dàng bị bỏ qua; điều này nhanh chóng trở nên rõ ràng. Bất kể mối quan tâm của họ có khác nhau ra sao, hầu hết các nhà triết học chẻ chia đều thừa nhận tầm quan trọng của nó. Điều này đặc biệt đúng khi loại logic mới, với những mối quan hệ chặt chẽ với toán học, được xem là cơ sở cho việc xây dựng lý thuyết cho khoa học. Nhiều nhà triết học coi sự kết hợp giữa logic và khoa học là một mô hình cho nghiên cứu triết học. Xim thực chứng logic – một học thuyết thịnh hành trong những năm 1930 và 1940 — là một biểu hiện điển hình của góc nhìn này. Vào cuối thế kỷ (XX), những tiền đề (antecedents) tương tự cũng có mặt trong các lý thuyết về ý nghĩa và rép (reference) do Carnap, Quine và Putnam phát triển. Như chúng ta sẽ thấy, sự pha trộn (mélange) giữa khoa học và logic này đã chi phối triết học Mỹ từ thời những nhà thực dụng đầu tiên như C. S. Peirce (người đã viết [những nội dung như thế] vào đầu thế kỷ XX) cho đến hiện tại.

Nhưng bản thân logic ký hiệu, ngoài các liên hệ với khoa học, cũng đóng vai trò như một hình mẫu (role model). Nhiều triết gia cho rằng các tiêu chuẩn về tính rõ ràng, chính xác và chặt chẽ nên được xem là mẫu mực (ideals) để noi theo khi giải quyết các vấn đề triết học. Peter Simons, David Kaplan, Quine, Davidson, Lewis, Marcus và Kripke là những đại diện nổi tiếng đương thời của góc nhìn này. Tuy nhiên, những nhà tư tưởng khác, đặc biệt là Wittgenstein già, đã bác bỏ đường lối này, cho rằng việc coi logic như một ngôn ngữ lý tưởng, vượt trội hơn các ngôn ngữ tự nhiên, chẳng hạn như tiếng Anh hoặc tiếng Đức, sẽ dẫn đến lẽ nghịch (nghịch lý) và thiếu nhất quán. Triết lý pha sau của Wittgenstein bao gồm việc phát triển một phương pháp độc nhất nhấn mạnh giá trị (merit) của ngôn ngữ đời thường trong việc mô tả thế giới. Như ông đã viết: “Điều chúng ta làm là đưa cách sử dụng từ ngữ theo kiểu siêu hình trờ về cách sử dụng đời thường của chúng.” Cụ thể, phương pháp của ông tránh việc đưa ra lý thuyết và khái quát vốn là bản chất của logic.

Mặc dù logic ký hiệu có ảnh hưởng rõ rệt, tôi không tin rằng việc nắm vững chi tiết kỹ thuật của nó là cần thiết để hiểu được tác động triết học của nó. Một phép so sánh có thể giúp ích ở đây. Ta không cần phải biết động cơ đốt trong hoạt động như thế nào mới có thể hiểu được cuộc thảo luận về tác động của ô tô lên khí quyển. Do đó, trong nghiên cứu này, tôi sẽ cố hết sức để không viết cuốn sách này như một giáo trình ngắn về logic. Tinh thần tương tự cũng được áp dụng cho phần thảo luận về logic cách thái (modal logic) trong Chương 8.

Đối với những chương trong sách này có liên hệ chặt chẽ giữa các khái niệm logic chuyên môn, chẳng hạn như lý thuyết lượng hóa, và các học thuyết triết học, chẳng hạn như lý thuyết mô tả và lý thuyết xử lý rép (tham chiếu) trực tiếp của tên riêng, nhìn chung có thể giải thích các khái niệm logic chuyên môn này bằng tiếng Anh thông thường, và đây là cách thức mà tôi sẽ theo đuổi. Do đó, tôi tin rằng người đọc có thể hiểu các vấn đề triết học mà không cần đến cơ sở logic hiện đại. Với lưu ý này, tôi xin mô tả cách thức và lý do tại sao các triết gia này đã phản ứng với lĩnh vực mới theo những cách khác nhau của họ.

HẾT CHƯƠNG 1

NỐT CHÂN


[1] + “Three Ways of Spilling Ink” (1970b)


[1] + a philosophical account of thought can be attained through a philosophical account of language.


[1] + a philosophical account of thought can be attained through a philosophical account of language.


[1] + Republic, tác phẩm của Plato, thường được dịch là “Cộng hoà”

[2] + Der Wahreitsbegriff in den formalisierten Sprachen

Leave a Reply

Sạn & Sỏi

Lặt vặt

Tác giả

300 Năm Kant A.J.Ayer AI Austin Book Hunter Bảo Tích Chalmers Cách ngôn Câu hỏi lớn Dịch Einstein Emmanuel Gặng xét Heidegger Hy Lạp IRED Kant Khoa học Kripke Logic Nagel Nguyễn Hữu Liêm Nguyễn Trung Kiên Nguyễn Xuân Xanh NXB Tri Thức Phân Tích Phật giáo Popper Quine Russell Ryle Schopenhauer Stroll Sạn Tarski Tractatus Triết học ngôn ngữ Triết học phân tích Triết học Phật giáo Triết học tâm trí Trí năng người tạo Trần Thị Điểu Trần Đình Thắng Wittgenstein Đỗ Quốc Bảo

Discover more from Triết Vui

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading