
So sánh cách tiếp cận của Phật giáo & Tây phương : Cát, sạn và sỏi
(Kỳ 1)
Tác giả: Steven M. Emmanuel ( chủ biên)
Dịch giả: Đỗ Quốc-Bảo và Nguyễn Huy-Đăng
Nxb: Khoa Học Xã Hội
Năm xuất bản: T3/2025
Viết tắt:
ĐQB: Bản dịch này của NXBKHXH
A: Bản gốc tiếng Anh
X: Nhận xét
****************************************
Kỳ này chúng tôi muốn bàn riêng về xu hướng dùng chữ Hán Việt của ĐQB
****************************************

A. Nói đầu
Ts Đỗ Quốc Bảo, trong “Những Câu Hỏi Lớn Của Triết Học; trang số 6”, có hùng tâm, ý chí to lớn:
“…Ở Việt Nam, ta có thể nói rằng, vẫn chưa có một hệ thống thuật ngữ triết học được xây dựng một cách chính xác, hoàn chỉnh, khoa học và nhất quán.… Tính chính xác và nhất quán là hai yếu tố được đặt lên hàng đầu trong việc truyền tải tri thức. Thói quen và sự ‘dễ hiểu’ thực sự không có chỗ đứng trong khoa học. Chẳng hạn như không thể lấy cách người Việt Nam hiện nay sử dụng lệch nghĩa những từ Hán-Việt như ‘yếu điểm’, ‘cứu cánh’ hay ‘nhất thiết’ để làm thành tiêu chuẩn khoa học được. Về vấn đề thuật ngữ trong triết học, chúng tôi đã trình bày chi tiết hơn trên trang Facebook Bảo Tích (https: //www.facebook.com/baotichratnakarah).…”
Do đó, chúng tôi đoán rằng nhóm Bảo Tích đang có dự án lớn: chuyển đổi tất cả những chữ Hán-Việt đã được sử dụng lệch nghĩa (ở Việt Nam), không đúng nghĩa với những chữ đó đang được sử dụng bên Trung Hoa, Đài Loan. Đây là dự án có ý nghĩa to lớn trong tương lai: Việt nam, Trung Hoa, Đài Loan, Tây Tạng,… sẽ thống nhất về ý nghĩa các từ Hán (-Việt/Đài/Tạng…), chúng ta hãy cùng Bảo Tích chắp tay nguyện cầu cho ngày ấy mau đến!
B. Vài tơm (thuật ngữ) cần chú ý
– ĐQB thường xuyên dùng chữ “chính xác”, theo ý chúng tôi thì chữ này chưa được “chính xác” cho lắm, do đó, chúng tôi tạm đặt:
+ phân biệt “chính xác theo Hán-Việt Tàu” (chữ Hán-Việt của nhóm Bảo Tích đề ra và có lẽ dựa trên các từ điển phổ thông Anh-Hoa, Đức Hoa,…) với “Hán-Việt Chợ Lớn” (Hán-Việt cũ ở Việt Nam được sử dụng cho đến ngày nay).
+ “dịch chính xác” theo ĐQB có nghĩa là “chính xác từ-từ (word by word)”, kể cả dấu phẩy, cũng phải “chính xác”.
+ Với tinh thần “chính xác” đó, với tinh thần hùng tâm vô lượng đó, chúng tôi sẽ đề cử ĐQB làm “cảnh sát trưởng Hán Việt Tàu”, gọi tắt là “cảnh sát Hán Việt”, “CSHV”.
C. Góp ý cho đại dự án thống nhất Hán Việt Tàu của cảnh sát Hán Việt ĐQB
1. Ngôn ngữ là dòng chảy, có đời sống, vận động riêng của nó: chúng không chỉ là những “nét nghĩa” mà còn những yếu tố khác, đối với VN, chẳng hạn cái gọi là “thẩm âm”, cái tai nghe của người Việt. Lấy ví dụ chữ “curator”, hiện nay ở VN dịch là “giám tuyển” và hình như Tàu dịch là “sách triển nhân” (“sách hoạch triển lãm khái nhân”), hay “hành khiển” gì đó – theo ý chúng tôi, chữ “giám tuyển” thuận với tai người Việt hơn. Hoặc lấy chữ khác, “sequence”, ngày trước dịch là “liệt số”, dần dần dịch là “dãy số” (Tàu hiện nay dịch là “tự liệt”). Nói tắt một tiếng, có sự khác biệt rất đáng kể giữa Hán Việt Tàu và Hán Việt Chợ Lớn. Do đó, cảnh sát Hán Việt ĐQB muốn thống nhất thì phải xây dựng một dự án:
– nghiên cứu tiền khả thi, số lượng từ Hán Việt Chợ Lớn cần phải đổi là bao nhiêu (theo chúng tôi ước lượng khoảng 100 ngàn chữ),
– nhân sự thực hiện công cuộc này ở đâu ra,
– làm sao ép người Việt phải xài những từ Hán Việt Tàu (việc này thì khá dễ: lập một Ban cảnh sát/an ninh Hán Việt, ĐQB là cảnh sát trưởng, ra luật và phạt thật nặng cho tởn (một chữ sai phạt 1000 usd) những ai vẫn ngoan cố xài chữ Hán Việt Chợ Lớn).
– bảo đảm thống nhất liên tục chữa Hán Việt Tàu với nước Sứ: lập một Bộ kiểm soát Hán Việt, trụ sở đặt ở Bắc Bình, bộ này chịu trách nhiệm sau cùng và báo cáo với chủ tịch Tàu Tập Viễn Bình về mọi sự liên quan Hán Việt Tàu: cỡ như Trần Đình Thắng đòi bài trừ Sứ việt thì long đầu trảm ngay lập tức, đầu treo ở Tử Cấm Thành để răn đe thị chúng!
2. Còn một phương án khác thực hiện đại dự án của CSHV ĐQB một cách dễ dàng: sáp nhập VN thành tỉnh “Quảng Nam” của Tàu, chỉ một thời gian ngắn là người VN biến thành người Tàu về mọi mặt, đồng thời lại trở thành công dân một cường quốc trên thế giới, vinh dự nào bằng – Tha hồ ăn bánh bò, bánh tiêu chính hiệu Tàu!
D. Hỗ trợ Cảnh sát Hán Việt Đỗ Quốc Bảo
– Đại dự án nói trên đến nay chưa thành hình, trước mắt chúng tôi hỗ trợ Hán Việt Tàu bằng một vài góp ý.
– Những từ chế của chúng tôi (trong sách): phần đầu kê ra những từ chế mới, kế đến kê từ cũ tương ứng và tiếng Anh,… như sau
+ Chắt (cũ: mệnh đề; proposition)
+ Đép (cũ: định nghĩa; definition)
nhằm bảo đảm bạn đọc biết rõ chữ mình đang đọc, chưa kể cuối sách có thêm bảng từ lõi để hỗ trợ bạn đọc.
Song trong ĐQB (Câu Hỏi Lớn):
- tự tiện thay bằng Hán Việt Tàu, không một cảnh báo, ghi chú:
+ intentionality > “chủ ý” (trang 22), thay vì nên chú thích, mở ngoặc “tính ý hướng”; hoặc dịch là “ý đồ tính” (tr. 130),…
Nói thêm: Chữ ‘tính ý hướng’ khá ổn định và ok trong hiện tượng học, ĐQB tự đặt ra ‘ý đồ’, ‘chủ ý’ vừa dở vừa rối không tưởng tượng được. Có một nhân vật khác nổi tiếng chế từ rất dở (ai cũng biết, nhưng cứ nghĩ mình chế là hay) đó là NH.
+ reality > “hiện thực”. (trang 11) Đây là chữ ĐQB tự tiện thay đổi gây chết người vì VN cho đến nay có phân biệt giữa “hiện thực” (actuality) và “thực tại” (reality) (Xem Từ điển Triết học; NXBTB Mát-Xcơ-Va hoặc Từ điển Triết học Kant, nhóm BVNS)
+ consensus > sự đồng ý thay vì “sự nhất trí” (trang 23). VN phân biệt khá tinh tế giữa “đồng ý” và “nhất trí”.
+ insight > “lí giải” (trang 25). “Lí giải” theo Hán Việt Chợ Lớn có ý nghĩa rất khác chưa kể ĐQB dịch rất “nhất quán” thành “nhận thức” (tr. 23), “cái nhìn sâu sắc” (tr. 25),…
+ perception > “cảm giác” (tr. 34, 85, 89,…). Đây là một trong những từ thuộc tâm lý, chưa được thống nhất ở VN cũng như ở Tàu; tuy nhiên từ này thường được dịch là “tri giác”. ĐQB có lẽ nên làm một bản kê rõ Hán Việt Tàu của mình để người đọc có thể theo dõi và đối chiếu: Gọi “gà” là “vịt”, gọi “vịt” là “mèo”,… ít ra sẽ giúp ích bạn đọc.
+ universal/particular > “cộng tướng/biệt tướng” (tr. 86). Đây là những tơm Phật học, khi có liên quan giữa Phật học/Triết phương tây (cái phổ quát/đặc thù) thì những người dịch phải tìm cách xử lý tình huống tế nhị này: Không thể tưởng tượng được khi Aristotle hoặc B. Rullsell dùng những chữ “cộng tướng, biệt tướng hay tổng tướng!”
+ logical claim > “đoán ngôn logic”…
+ counterexample > “phản lệ chứng”. Hán Việt Chợ Lớn đến nay vẫn quen dùng “phản ví dụ”; đổi thành “phản lệ chứng” mấy ông ban toán thế nào cũng chống đối kịch liệt: Cảnh sát Hán Việt đem xử bắn vài ông Gs, TS thế là êm thôi!
…
Nói chung, còn rất nhiều chữ Hán Việt Tàu được sử dụng trong cuốn sách này. Tuy nhiên để dự án Hán Việt Tàu “chính xác và nhất quán” thì ĐQB phải tổ chức và trình bày cho hợp lý về mặt sư phạm, không thể tự động thay những từ quen thuộc của VN bằng chữ Hán Việt Tàu; khi đó, cách đọc an toàn là coi song song bản dịch Việt này và bản tiếng Anh!
(Kỳ tới: Lối dịch và sử dụng tiếng Việt của cảnh sát Hán Việt ĐQB)





Leave a Reply