
So sánh cách tiếp cận của Phật giáo & Tây phương : Cát, sạn và sỏi
(Kỳ 2)
Tác giả: Steven M. Emmanuel ( chủ biên)
Dịch giả: Đỗ Quốc-Bảo và Nguyễn Huy-Đăng
Nxb: Khoa Học Xã Hội
Năm xuất bản: T3/2025
Viết tắt:
ĐQB: Bản dịch này của NXBKHXH
A: Bản gốc tiếng Anh
X: Nhận xét
Kỳ này chúng tôi bàn riêng về xu hướng dịch sang tiếng Việt, câu cú cũng như lối dùng tiếng Việt của ĐQB.
Nhận xét chung:
- ĐQB áp dụng chặt chẻ lối dịch theo kiểu từ-từ (một-một; word by word), không sót một dấu phẩy.
- Lối dùng tiếng Việt của ĐQB cứ như của người nước ngoài viết tiếng Việt
Rút kinh nghiệm từ những lần trước, chúng tôi không kê ra quá nhiều khiến không ai buồn đọc kỹ, thành thử chỉ kê ra vài điểm tượng trưng mà thôi.
Bạn đọc hẳn đã biết về lối dịch từ-từ, song ở ĐQB thì lối dịch này được áp dụng rất xuyên suốt cả cuốn sách. Tạm nhắc lại, dịch kiểu từ-từ, không sót dấu phẩy, là như thế này:
The book, which is on the table, is white.
Cuốn sách, cái mà nằm trên bàn, thì màu trắng.

- (trang 22)
ĐQB:
“… những ngành khoa học này dường như vẫn để ngỏ những câu hỏi lớn các vấn đề về ý thức và chủ ý, VỀ quan hệ nhân quả tinh thần và tự do ý chí — MộT CÁCH RộNG Mở.”
A:
“… these sciences seem to have left the big questions—the problems of consciousness and intentionality, OF mental causation and free will—WIDE OPEN.
Ngay cả Google dịch còn biết cách sắp xếp, thu gọn câu chữ:
“Những khoa học này dường như đã Bỏ NGỏ những câu hỏi lớn—các vấn đề về ý thức và chủ ý, về nguyên nhân tinh thần và ý chí tự do.”
X:
Bạn đọc thử dịch lại câu này cho thuận tai người Việt. - (trang 25)
ĐQB:
“Điều có thể xảy ra là có một đường cong với mức độ phức tạp triết học ngày càng tăng đến mức sau khi vượt qua một điểm nhất định trên đường cong (ĐƯỜNG CONG NÀO?) thì tiến bộ lớn là KHẢ NĂNG.”
A:
“It may turn out that there is a curve of increasing philosophical sophistication such that past a certain point on the curve, major progress is POSSIBLE.”
X:
– Bạn đọc tự nhận xét
– Hãy viết lại sao cho câu cú thuận tai người Việt và dễ hiểu hơn. - (trang 127)
ĐQB:
“Ý THỨC CÓ THỂ ĐƯỢC GIẢI THÍCH?”
A:
“CAN CONSCIOUSNESS BE EXPLAINED?”
X:
Cách thụ động (passive voice) trong cả cuốn sách này hầu như đều được dịch cùng một kiểu là “…ĐƯỢC…” như trong ví dụ trên.
Bạn đọc thử bỏ hai phút (2 phút) đọc và suy nghĩ kỹ câu sau trước khi xem tiếp:
“Ý THỨC CÓ THỂ ĐƯỢC GIẢI THÍCH?”
Nếu bạn hiểu rõ thì có thể bỏ qua phần này, không cần đọc tiếp.
Nếu bạn cảm thấy có cái gì đó không hiểu, nó làm sao ấy, thì đây là gợi ý: ba câu này ý nghĩa có khác nhau không:
– Nấm này có thể được ăn (ư)?
– Nấm này có thể ăn được?
– Có thể ăn được nấm này?
Hint: Tìm tài liệu về cách dùng chữ “được” trong tiếng Việt.
Bài tập: Hãy dịch lại câu trên cho suông tai!
4. (trang 81)
ĐQB:
“…Russell, người đã nói rằng “KHÔNG ĐỊNH NGHĨA NÀO CÓ THỂ LÀM THOẢ MÃN KHI DẪN NHẬP từ ‘TRI THỨC’, vì từ này rất mơ hồ và vì mỗi ý nghĩa trong những ý nghĩa khả dĩ của nó chỉ có thể được làm sáng tỏ”
A:
“…Russell, who stated, “NO DEFINITION CAN BE SATISFACTORY WHICH INTRODUCES THE WORD ‘KNOWLEDGE’, both because this word is highly ambiguous, and because every one of its possible meanings can only be made clear after much epistemological discussion.”
X:
Chúng tôi đọc B. Russell không nhiều nhưng cũng không ít – nhưng đọc hai ba lần câu “KHÔNG ĐỊNH NGHĨA NÀO CÓ THỂ LÀM THOẢ MÃN KHI DẪN NHẬP từ ‘TRI THỨC’” thì rất khó hiểu, phải xem lại câu gốc tiếng Anh mới thấy rõ roàng, tại sao? Vì cách dịch bám sát một-một quá thể mặc dù ý từ của câu rất đơn giản: Không thể dùng khái niệm ‘tri thức’ để định nghĩa ‘tri thức’!

Bài tập: Bạn đọc hãy dịch lại câu này cho rõ ràng, thuận tai người Việt.
- (trang 23)
ĐQB:
Thực vậy, như Chalmers đã chỉ ra, một trong những lí do chính khiến các triết gia gặp khó khăn trong việc xây dựng Sự ĐồNG Ý là các luận cứ ỦNG HỘ những kết luận mạnh trong triết học (không như khoa học và số học) hầu như luôn có những tiền đề hoặc suy luận có thể bị bác bỏ mà KHÔNG CÓ QUÁ NHIềU PHÍ TổN.
A:
Indeed, as Chalmers points out, one of the main reasons why philosophers struggle to build CONSENSUS is that “arguments FOR strong conclusions in philosophy (unlike science and mathematics) almost always have premises or inferences that can be rejected WITHOUT TOO MUCH COST.”
X:
- CONSENSUS nên dịch là SỰ ĐỒNG THUẬN hoặc NHẤT TRÍ, nó mang nghĩa ‘tập thể’ mạnh hơn nhiều so với chữ “SỰ ĐỒNG Ý”.
- FOR strong conclusions nên dịch là “DẪN/ĐƯA ĐẾN”, luận cứ là để ĐƯA ĐẾN (những) kết luận
- “hầu như luôn có những tiền đề hoặc suy luận có thể bị bác bỏ mà KHÔNG CÓ QUÁ NHIềU PHÍ TổN”: dịch quá sát nghĩa đen! Mời bạn đọc dịch lại.
- (trang 23)
ĐQB:
Tuy nhiên, trong khi tất cả những cách tiếp cận này đã dẫn đến sự tiến bộ dưới dạng những nhận thức mới, luận cứ và kết luận mới, thì vẫn chưa có một ‘SỰ QUY TỤ ĐếN CHÂN LÍ’ (‘convergence to the truth’) MANG TÍNH TẬP THỂ VỀ những câu hỏi lớn của triết học.
A:
Yet while all these approaches have led to progress in the form of new insights, arguments, and conclusions, there has not been a COLLECTIVE “CONVERGENCE TO THE TRUTH” ON the big questions of philosophy.
X:
- ‘SỰ QUY TỤ ĐếN CHÂN LÍ’ MANG TÍNH TẬP THỂ nghĩa là sao? Giống như ‘GIếT NGƯờI MANG TÍNH TậP THể’ thì phải hiểu thế nào?
- Do dịch quá cứng theo trật tự từ ngữ nên câu dịch vừa khó hiểu, vừa lủng củng!
- Chữ ON ở đây dịch là ‘VỀ’, cái sai này khá tinh tế, bạn đọc thử tìm xem sai ra sao!
TẠM DỊCH
… thì vẫn chưa có ‘SỰ TIẾN CHUNG VỀ CHÂN LÍ’ ĐỐI VỚI những câu hỏi triết học lớn.
- (vô số những hạt cát khó chịu…)
ĐQB:
“Không có gì đáng ngạc nhiên, câu hỏi liệu chúng ta có thể HI VỌNG đạt được sự đồng ý về bất kì câu hỏi lớn nào của triết học hay không và ở mức độ nào thì bản thân nó lại là một vấn đề gây bất đồng. Nhiều người bi quan về NHỮNG TRIỂN VọNG.” (tr. 24)
…
“Đồng thời, lựa chọn tốt nhất của chúng ta chỉ đơn giản là tiếp tục nghiên cứu triết học tốt như có thể, cố gắng ‘đưa ra những lí giải, phương pháp và khái niệm mới mà cuối cùng có thể giúp chúng ta trả lời được CÁC CÂU HỎI.”
A:
“Not surprisingly, the question of whether and to what extent we may ever hope to achieve consensus on any of philosophy’s big questions is itself a matter of disagreement. Many are pessimistic about THE PROSPECTS.”
…
“In the meantime, our best option is simply to keep doing philosophy as well as we can, trying to “come up with those new insights, methods, and concepts that might finally lead to us answering THE QUESTIONS.”
X:
Những hạt cát là những chỗ in HOA, bạn tìm ra và giải thích được không?
- (trang 25)
ĐQB:
“Một sự lạc quan tương tự cũng ĐƯợC BIểU HIệN bởi Schellenberg, người cho rằng chúng ta có thể vẫn đang ở những ngày TốI SƠ của lịch sử triết học…”
A:
“A similar optimism IS EXPRESSED by Schellenberg, who suggests that we may still be in the EARLIEST days of philosophical history…”
X:
- Thức passive voice thường được dùng trong tiếng Anh, khác hẳn tiếng Việt. Xuyên suốt cuốn sách này vẫn giữ nguyên cách dịch này, đọc rất mệt, đặc biệt cộng thêm mấy chữ Hán việt không cần thiết.
TẠM DỊCH (chính xác là Google dịch)
Schellenberg cũng bày tỏ sự lạc quan tương tự khi cho rằng chúng ta có thể vẫn đang ở những ngày ĐầU TIÊN của lịch sử triết học…”
- (trang 25)
ĐQB:
“Theo quan điểm này, việc cho phép một sự đa dạng lớn hơn của tiếng nói và những quan điểm văn hoá tham gia vào cuộc trò chuyện (TĐT: Cuộc trò chuyện NÀO?) sẽ đào sâu hơn CÁI GIẾNG của nhận thức triết học,…”
A:
“According to this view, allowing a greater diversity of voices and cultural perspectives to enter into the conversation deepens THE WELL of philosophical insight, …”
X:
- “CÁI GIẾNG của nhận thức triết học”: nên hiểu CÁI GIẾNG ở đây là gì?
- (trang 28-29)
ĐQB:
“Chúng ta cần triết học Tỉ GIảO ở giai đoạn đầu của quá trình toàn cầu hoá văn hoá khi cần đặt các truyền thống triết học khác nhau cạnh nhau để có được lối vào và để học cách đọc các truyền thống xa lạ NHƯ triết học. Nhưng bây giờ chúng ta có thể nói một cách an toàn, ĐÃ ở ĐÓ; ĐÃ LÀM VIệC ĐÓ. Do đó, tôi coi như đương nhiên rằng THờI KÌ mà ‘triết học tỉ giảo’ còn là NHIệM Vụ ĐÃ QUA, và một phương pháp luận khác là tất yếu ở giai đoạn thực hành triết học này.”
A:
“We needed COMPARATIVE philosophy at an earlier stage of cultural globalization when it was necessary to juxtapose different philosophical traditions in order to gain an entrée and in order to learn how to read alien traditions AS philosophical. But now we can safely say, “BEEN THERE; DONE THAT.” I therefore take it for granted that THE DAYS when “comparative philosophy” was the task are OVER, and a different methodology is necessary at this stage of philosophical practice.”
X:
Bạn đọc tự phân tích (đến đây chúng tôi chán rồi), chúng tôi chỉ tạm dịch:
“Ở giai đoạn đầu tiến trình toàn cầu hóa về mặt văn hóa, triết học so sánh là cần thiết khi [ta] cần đặt cạnh nhau các truyền thống triết học khác nhau nhằm tìm một lối vào, nhằm học cách đọc các truyền thống xa lạ DƯớI GÓC Độ triết học. Nhưng giờ đây chúng ta có thể nói chắc rằng [chúng ta] “ĐÃ TừNG ĐẾN VÀ BỤP RỒI”. Do đó, tôi cho rằng ĐÃ QUA ĐI những tháng ngày của nhiệm vụ “triết học so sánh”, và ở giai đoạn thực hành triết học này, chúng ta cần có một phương pháp luận khác.”
Nốt:
“BEEN THERE; DONE THAT” là một idiom, dịch sát là “đã từng ở đó; đã làm điều đó”, xem thêm trên mạng …
KẾT LUẬN
Mặc dù cuốn sách này chỉ thuộc loại sách vào cửa (dẫn nhập), tuy nhiên với phương pháp luận dịch cứng nhắc từ-theo-từ, cú-theo-cú cùng với chủ trương dùng Hán Việt Tàu của ĐQB đã khiến sách này vô cùng khó đọc. Phải chi chế hẳn từ Hán Việt mới, đằng này ĐQB lại dùng chữ gây lẫn lộn cho người đọc như đã chỉ ra một số chữ như vậy trong kỳ trước, chúng tôi có thể kể thêm vô số những từ như vậy: insight dịch là nhận thức (trang 23), lý giải (trang 24), cái nhìn sâu sắc (trang 25), trí tuệ (trang 33), kiến giải (trang 55); well-being dịch là kiện khang (trang 45), hạnh phúc,…





Leave a Reply