Một «nẻo băng qua»: dịch cái không dịch được

Trần Đình Thắng dịch; bản nháp 0.1

Un « passage » : traduire l’intraduisible1
A ‘passage’: translating the untranslatable

Ricoeur đặt vấn đề: nếu ngôn ngữ vốn khác biệt triệt để, nếu mỗi hệ thống từ vựng, cú pháp, diễn ngôn đều mang dấu ấn văn hóa riêng, thì làm sao việc dịch có thể diễn ra? Thành ngữ, tham chiếu văn hóa, hình ảnh thơ ca, một số thứ cản trở việc chuyển tải. Liệu chúng ta có nên từ bỏ? Ricœur trả lời chắc chắn: không! Cái không dịch được chính là thứ khơi nguồn sáng tạo. Nó thúc đẩy người dịch sáng tạo, tìm kiếm những tương đương cộng hưởng, giữ gìn tinh thần nếu không phải là chữ viết. Điều tưởng chừng như giới hạn lại trở thành động lực của sáng tạo. Ricoeur phân biệt giữa “tính dịch được” và “tính không dịch được”, giữa “tương đương” và “tương đương không đồng nhất”. Dịch không phải là sao chép từng từ hay từng câu, mà là nỗ lực chuyển tải toàn văn bản, vốn gắn liền với một nền văn hóa và một thế giới quan. Vì thế, người dịch không chỉ là người trung gian giữa hai ngôn ngữ, mà còn là người đứng giữa hai nền văn hóa.

Tặng Jean Greisch

Bài viết của tôi sẽ xoay quanh nghịch lý vừa là nguồn gốc của dịch thuật vừa là một trong những hệ quả của dịch thuật. Nghĩa là, theo một nghĩa nào đó, không thể dịch được một thông điệp bằng lời trong một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác.

1. Có một thứ không thể dịch đầu tiên, một thứ ban đầu không thể dịch2, đó là tính nhiều3 của các ngôn ngữ. Và tốt hơn nên noi theo von Humboldt, là gọi ngay đấy là tính đa dạng, tính khác biệt của ngôn ngữ — điều này gợi lên một sự khác biệt cơ bản khiến cho việc dịch trở nên không thể ngay từ đầu.4 Tính đa dạng này ảnh hưởng đến mọi mức độ hoạt động của ngôn ngữ: sự phân chia ngữ âm (phonetic) và phát âm – cơ sở của hệ thống ngữ âm; sự phân chia từ vựng – khiến các ngôn ngữ đối với nhau – không phải giữa các từ, mà là giữa hệ thống từ vựng này với hệ thống từ vựng khác, tức là những ý nghĩa từ vựng nằm trong một mạng lưới các khác biệt và đồng nghĩa; sự phân chia cú pháp cũng ảnh hưởng đến, chẳng hạn, hệ thống động từ và vị trí của sự kiện trong thời gian5, hoặc thậm chí ảnh hưởng đến các cách thức kết nối và mạch lạc. Nhưng chưa phải là hết; ngôn ngữ không chỉ khác nhau ở cách chúng chia cắt thực tại mà còn ở cách chúng sắp xếp lại thực tại ở cấp độ lời ăn lẽ nói6. Benveniste đã bác bỏ Saussure ở điểm này, nhận xét rằng đơn vị cơ bản của ngôn ngữ tỏ nghĩa (meaningful language) là câu, chứ không phải từ mà tính đối lập đã được ta nhắc đến. Song, câu lại tổ chức theo cách tổng hợp (synthetic way): một người nói, một người nghe, một thông điệp muốn biểu đạt điều gì đó, và đối tượng được rép đến — tức là những gì mà ta nói về, những gì mà ta nói đến (nghĩa là, những gì ai đó nói với ai đó về một điều gì đó, tuân theo các quy tắc tỏ nghĩa)7. Chính ở cấp độ này, tính không dịch được lại trở nên phức tạp hơn: nó không chỉ là vấn đề chia cắt thực tại, mà còn là quan hệ giữa nghĩa (sense) và rép (referent), tức là quan hệ giữa điều mà ta nói với cái mà ta nói đến. Trên khắp thế giới, câu cú trôi nổi quanh ta như những con bướm khó nắm bắt. Đây vẫn chưa phải là tất cả, thậm chí chưa phải là điều đáng sợ nhất; câu chỉ là những lời lẽ (diễn ngôn) ngắn được trích từ những lời lẽ dài hơn gọi là văn bản. Người dịch hiểu rất rõ điều này: chính văn bản là thứ mà các văn bản của chúng ta cố gắng dịch lại, chứ không phải câu hay từ. Về phần văn bản, chúng thuộc về những chỉnh thể văn hóa (cultural groups) nhất định, trong đó những thế giới quan khác nhau được biểu đạt. Hơn nữa, những thế giới quan này có thể đối đầu nhau ngay trong cùng một hệ thống cơ bản về ngữ âm, từ vựng và phân chia cú pháp, biến cái mà chúng ta gọi là “văn hóa dân tộc” hay “văn hóa cộng đồng” thành một mạng lưới các thế giới quan cạnh tranh trực tiếp hoặc ngấm ngầm. Chỉ cần nghĩ đến phương Tây và những đóng góp kế tiếp của nó: Hy Lạp, La Mã, Do Thái, và các thời kỳ cạnh tranh đại diện cho những cách tự nhận thức khác nhau — từ Trung Cổ đến Phục Hưng, đến Cải cách, đến Mở sáng, đến thời kỳ Lãng mạn.

Sau khi xem xét những cân nhắc này, tôi tin rằng công việc của người dịch không phải là đi từ sang câu, sang văn bản, sang toàn bộ văn hóa, mà là bước theo chiều ngược lại: Bằng cách tiếp thu những diễn giải sâu rộng về tinh thần của một nền văn hóa, sau đó người dịch mới đi từ văn bản, xuống câu và từ. Bước cuối cùng này, hay có lẽ là quyết định sau cùng, chính là việc tạo ra một bảng từ (glossary) ở cấp độ từ ngữ (mots, words). Việc lựa chọn bảng từ là thử thách cuối cùng, nơi tưởng chừng những gì không thể dịch được, rốt cuộc lại được kết tinh tinh tế trong veo.

2. Tôi vừa nói về sự không thể dịch ban đầu.8 Để đi đến cái không thể dịch cuối cùng9, tức là cái mà tiến trình dịch tạo ra, ta cần phải nói về cách thức hoạt động của sự dịch. Bởi vì việc dịch là có thật. Chúng ta luôn dịch: luôn có những nhà buôn, khách đi đường, đại sứ, gián điệp để đáp ứng nhu cầu mở rộng giao lưu giữa con người vượt ra ngoài cộng đồng ngôn ngữ, vốn là một trong những thành phần thiết yếu để gắn kết xã hội và bản sắc cộng đồng. Những người cùng một nền văn hóa luôn biết rằng có những người khác [lạ]10 với những phong tục và ngôn ngữ khác biệt. Và “cái khác” luôn gây xáo trộn: Liệu có những lối sống khác với lối sống của chúng ta hay sao? Việc dịch luôn là một phản ứng phần nào cho “thử thách của cái khác”11 này. Ban đầu, nó ngụ ý sự tò mò –như nhà duy lý thế kỷ XVIII từng hỏi, làm thế nào mà người ta lại có thể là người Ba Tư được nhỉ? Chúng ta đều biết những lẽ ngược (nghịch lý) của Montesquieu: Thử tưởng tượng người Ba Tư diễn giải phong tục của người thuộc phương Tây, Hy Lạp-La Mã, Cơ Đốc giáo, bọn mê tín và đám duy lý. Chính cái tò mò này về “cái khác” này đã nuôi dưỡng niềm “khao khát dịch thuật” được Antoine Berman mô tả trong Thử thách của Cái Khác.

Người dịch làm việc đấy như thế nào? Tôi cố tình dùng động từ ‘làm’. Bởi vì chính nhờ sự ‘làm’ này, một cuộc tìm kiếm lý thuyết [dịch thuật], người dịch sẽ vượt qua được rào cản – thậm chí là sự phản đối về mặt lý thuyết – của tính không thể dịch về nguyên tắc từ ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác. Trong một bài viết trước, tôi đã nhắc lại những nỗ lực đưa ra một giải pháp lý thuyết cho tình thế giằng hai12 giữa sự không thể về nguyên tắc và việc thực hành trong dịch thuật: hoặc phải nương nhờ một ngôn ngữ gốc (original language), hoặc là mạo hiểm xây dựng một ngôn ngữ nhân tạo, mà Umberto Eco đã lần lại con đường ấy trong “Đi tìm Ngôn ngữ Hoàn hảo trong Văn hoá châu Âu”. Tôi sẽ không quay lại những lập luận đã dẫn đến thất bại của hai nỗ lực này: sự tùy tiện trong việc tái tạo ngôn ngữ gốc, mà cuối cùng hoá ra là không thể tìm thấy. Có lẽ đó chỉ là một ảo tượng rặt ròng: ảo tượng về cái [nguồn] gốc được lịch sử hóa, sự chối bỏ vô vọng đối với tình trạng thực tế của con người (human condition), đó là tính nhiều (đa nguyên) ở mọi cấp độ tồn tại, mà biểu hiện đáng lo ngại nhất của “tính nhiều” này là sự đa dạng ngôn ngữ: tại sao lại có quá nhiều ngôn ngữ? Câu trả lời: Sự việc vốn là thế. Theo cái tít của Steiner, chúng ta đang sống trong thời đại “Sau Babel”, điều này là bản tính (constitution) chứ không phải chợt sao (ngẫu nhiên) nào đó được xem là một lỗi lầm. Đối với các ngôn ngữ nhân tạo, được coi là ngôn ngữ hoàn hảo, bên cạnh việc chưa ai viết thành công, chúng còn không đáp ứng được các điều kiện tiên quyết là liệt kê đầy đủ các ý tưởng cơ bản và phát minh ra các bước phái sinh phổ biến và duy nhất. Hơn nữa, sự khác biệt giữa cái được cho là ngôn ngữ nhân tạo và ngôn ngữ tự nhiên, với những đặc điểm và đặc thù riêng, đã tỏ ra là không thể vượt qua. Ngoài những khác biệt này thì còn một khác biệt nữa trong cách các ngôn ngữ xử lý quan hệ giữa nghĩa (sense) và rép (reference), trong quan hệ giữa việc nói về cái thực (the real), nói về cái gì đó khác với cái thực, cái có thể, cái không thực, không tưởng (utopia), thậm chí cả cái bí mật, cái không thể nói ra – tóm lại là cái “khác” với cái có thể nói ra. Cuộc giằng co của mọi ngôn ngữ với cái bí mật, cái ẩn giấu, cái bí ẩn, cái không thể nói ra chính là sự không thể truyền đạt sống động nhất và là sự không thể dịch ban đầu ở mức độ sâu nhất.

Vậy họ đã làm như thế nào? Trong bài viết trước, tôi đã thử cố thay thế cặp đôi lựa chọn gây tê liệt – dịch được và không dịch được – bằng cặp lựa chọn khác: trung thành và phản bội. Ngay cả khi việc này có nghĩa là thừa nhận rằng thực hành dịch thuật vẫn là một hoạt động đầy rủi ro, mãi trên con đường tìm kiếm lý thuyết cho riêng nó.

Tôi muốn quay lại sự thừa nhận này, nhấn mạnh điều mà tôi gọi là “tính không dịch được cuối cùng” được hé lộ, và thậm chí được tạo ra bởi chính việc dịch. Tình thế giằng hai13 giữa trung thành/phản bội được xem là một vấn đề thực tiễn bởi vì không có tiêu chuẩn tuyệt đối nào về việc thế nào được coi là một bản dịch tốt. Tiêu chuẩn tuyệt đối này sẽ là “cùng một ý nghĩa”, được viết ở đâu đó, phía trên và nằm giữa văn bản gốc và văn bản đích (văn bản thứ hai). Văn bản thứ ba này sẽ mang ý nghĩa hệt như nhau, được cho là chuyển từ văn bản thứ nhất sang văn bản thứ hai. Do đó, nảy sinh một lẽ ngược ẩn sau thế giằng hai thực tiễn giữa trung thành và phản bội: một bản dịch tốt chỉ có thể nhắm tới sự tương đương giả định, chứ không hề dựa trên một «đồng nhất ý nghĩa» có thể chứng minh được, nghĩa là, tương đương nhưng không đồng nhất14. Vậy thì, chúng ta có thể liên hệ giả định về sự tương đương không đồng nhất này với công việc dịch thuật, điều này thể hiện rõ nhất trong hiện tượng dịch lại mà ta thấy được trong các tác phẩm lớn của con người, đặc biệt là những văn bản vượt qua rào cản chênh lệch trong các hệ thống phân chia và tái cấu trúc từng cụm từ và từng từ đã đề cập ở trên, ví dụ như giữa tiếng Do Thái, tiếng Hy Lạp và tiếng La tinh, hay giữa tiếng Trung và các ngôn ngữ Ấn Độ. Tuy nhiên, ngay cả trong cùng khu vực văn hóa nhất định, việc dịch lại vẫn không ngừng diễn ra, như ta có thể thấy với Kinh Thánh, Homer, Shakespeare hay Dostoyevsky. Công việc này mang lại sự an tâm cho người đọc, bởi vì nó cho phép họ tiếp cận các tác phẩm của một nền văn hóa nước ngoài mà họ không biết ngôn ngữ đấy. Nhưng còn người dịch và tình thế dằng hai giữa “trung thành/phản bội” thì sao? Những người khao khát dịch thuật vĩ đại, những người theo xim Lãng mạn Đức, mà Antoine Berman đã kể lại trong Thử Thách của Cái Khác, đã nhân lên nhiều phiên bản của tình thế dằng hai thực tế này mà họ đã xoa dịu bằng những cụm từ như: “đưa người đọc đến với tác giả”, “đưa tác giả đến với người đọc”. Họ tìm cách xoa dịu nỗi hoang mang khi phải phục vụ hai người chủ, kẻ khác lạ với tính xa lạ của ni, và người đọc với niềm khát khao chiếm hữu, đồng hoá (appropriation). Chúng ta sẽ góp phần xóa tan nỗi hoang mang, ray rứt này bằng cách gợi ý từ ​​bỏ giấc mơ về một bản dịch hoàn hảo và thừa nhận sự khác biệt không thể vượt qua giữa cái riêng của mình và cái khác. Tôi xin nhắc lại lời thừa nhận này ở đây.

Tuy nhiên, điều vẫn luôn được ngầm giả định, dưới lối nói có vẻ khiêm tốn là “tương đương không đồng nhất”, chính là sự tồn tại trước của ý nghĩa mà bản dịch được cho là phải “tái hiện”, như ta vẫn nói, gắn với một ý niệm mơ hồ về sự “hoàn lại” (restitution). Sự tương đương này chỉ có thể được tìm kiếm, được tạo ra, và được giả định mà thôi.

Ta cần phải xem xét lại giả định này. Giả định này tương đối có thể chấp nhận được trong một không gian văn hóa rộng lớn. Cụ thể là, không gian văn hoá, với những bản sắc cộng đồng – kể cả ngôn ngữ – mà bản thân chúng hình thành trong tiến trình trao đổi lâu dài, chẳng hạn như trong khu vực văn hóa Ấn-Âu; hoặc thậm chí còn đúng hơn trong các nhóm nhỏ có quan hệ gần gũi như các ngôn ngữ Roman, German và Slav; hoặc trong các quan hệ hai chiều (dual relationship), chẳng hạn như giữa một ngôn ngữ Latinh và một ngôn ngữ German, chẳng hạn Anglo-Saxon. Vì vậy, giả định trước về sự tương đương có vẻ chấp nhận được. Trên thực tế, sự gần gũi về văn hóa đã che giấu bản chất thực sự của sự tương đương, vốn được tạo ra (chứ không phải được giả định trước) bởi việc dịch. Tôi đang rép đến một tác phẩm không liên quan trực tiếp đến dịch thuật, nhưng nó gián tiếp làm sáng tỏ hiện tượng mà tôi đang cố mô tả: việc tạo ra sự tương đương thông qua dịch thuật. Cuốn sách này do Marcel Détienne (một học giả Hy Lạp) viết và có tựa đề So sánh Cái Không Thể So Sánh.15 Sách này phản đối khẩu hiệu: “Chúng ta chỉ có thể so sánh những gì có thể so sánh được” (trang 45–6), vì vậy ông nói về “những nghiên cứu so sánh mang tính xây dựng”. Trong khi Antoine Berman nói về “thử thách của cái khác/lạ”16, Détienne lại nói về “cú sốc của cái không so sánh được”. Ông nhận xét, cái không so sánh được đặt ta trước “sự kỳ lạ của những cử chỉ17 đầu tiên và những khởi đầu đầu tiên” (trang 48).

Ta hãy áp dụng công thức sau vào sự dịch: ‘xây dựng những cái so sánh được’. Tôi tìm thấy một ví dụ làm rõ trong cách diễn giải của nhà Hán học lỗi lạc người Pháp, François Jullien, về mối quan hệ giữa Trung Quốc cổ đại và Hy Lạp cổ đại cũng như cổ điển. Luận điểm của ông, Trung Quốc là cái khác hoàn toàn với Hy Lạp; điều này tôi không muốn tranh cãi, và chỉ xem đó một giả thiết để lập luận. Luận điểm này cho rằng, việc hiểu Trung Quốc từ bên trong tương đương với việc giải cấu tư duy và ngôn ngữ Hy Lạp từ bên ngoài, từ mặt ngoài. Vì vậy, cái khác lạ tuyệt đối lại nằm ở phía chúng ta, những người suy nghĩ và nói năng theo kiểu Hy Lạp, dù là bằng tiếng Đức hay tiếng Latinh. Đẩy luận điểm này đến cực độ, điều này có nghĩa là có một ‘nếp gấp’18 ban đầu giữa Trung Quốc và Hy Lạp về mặt suy tưởng cũng như trải nghiệm, một ‘nếp gấp’ mà ta không thể vượt qua. Do đó, trong cuốn sách cuối cùng của mình, có cái tít “Về thời gian”,19 Jullien khẳng định rằng tiếng Trung không có “thì”20 cho động từ vì tiếng Trung không có khái niệm về thời gian do Aristotle đưa ra trong Vật lý IV, sau đó được Kant cấu trúc lại trong ‘Mỹ học ngoài nghiệm’21, và được Hegel phổ biến rộng rãi thông qua các ý tưởng về phủ địnhném vượt (Aufhebung). Toàn bộ cuốn sách của Hegel có dạng: ‘không có . . . không có . . . nhưng có’.22 Vì vậy, tôi muốn đặt ra câu hỏi: làm thế nào chúng ta nói (bằng tiếng Pháp) về những gì “có” trong tiếng Trung? Thế nhưng Jullien không hề dùng một từ tiếng Trung nào trong sách (ngoại trừ “âmdương”!); ông nói bằng tiếng Pháp, bằng một ngôn ngữ đẹp, về có những gì thay vì thời gian: mùa màng, thời cơ, rễ và lá, nguồn và dòng chảy. Bằng cách làm như vậy, ông đã xây dựng những cái so sánh được. Ông làm điều đó theo cùng cách mà tôi đã nói về cách làm việc của những người làm công việc dịch: từ trên xuống dưới, bắt đầu bằng một trực giác rộng lớn về sự khác biệt trong các “nếp gấp”, xuyên suốt tác phẩm, các kinh điển Trung Hoa, và đi xuống đến từng từ, từng chữ. Cuối cùng, việc xây dựng cái có thể so sánh được thể hiện qua việc xây dựng một bảng từ. Về phần từ ngữ trong các ngôn ngữ “Hy Lạp” của chúng ta, ta đã tìm thấy gì? Những từ ngữ thông thường, không có vận mệnh triết học, nhưng nhờ tác động của sự dịch, chúng được tách khỏi ngữ cảnh sử dụng thông thường và được nâng lên vị thế của những tương đương –những tương đương không đồng nhất nổi tiếng, mà trước đây ta đã giả định hiện thực của chúng đã sẵn có, ẩn giấu đâu đó, và chờ được người dịch khám phá ra.

Sự vĩ đại của sự dịch, rủi ro của sự dịch: sự phản bội mang tính sáng tạo đối với bản gốc, sự chiếm hữu cũng mang tính sáng tạo của ngôn ngữ tiếp nhận; xây dựng cái so sánh được.

Tuy nhiên, chẳng phải điều tương tự cũng đã xảy ra vào những thời kỳ khác nhau trong nền văn hóa của chúng ta – khi Nhóm Bảy Mươi dịch Kinh Thánh tiếng Do Thái sang tiếng Hy Lạp, tức là cái mà ta gọi là Bản Bảy Mươi, chỉ những chuyên gia thông thạo tiếng Do Thái mới có thể dễ dàng phê bình nó? Và Thánh Jerome đã lặp lại việc này với Vulgate(bản kinh Thánh La mã), nhằm xây dựng cái so sánh được (cái tương đương) bằng tiếng La tinh. Nhưng trước Jerome, người Latinh đã tạo ra những cái so sánh được khi họ quyết định thay cho tất cả chúng ta rằng aretê nên dịch là virtus, polisurbspolitèscivis. Vẫn với Kinh Thánh, ta có thể nói rằng Luther không chỉ tạo ra một cái so sánh được khi dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức, hay như ông nói, “Đức hóa” Kinh Thánh dựa trên bản La tinh của Jerome, mà ông còn sáng tạo ra tiếng Đức, vốn cũng so sánh được với tiếng La tinh, bản Bảy Mươi (Septuagint) tiếng Ý và bản Kinh Thánh Do Thái.

3. Ta đã đi đến tận cùng của cái không thể dịch được chưa? Chưa, bởi vì chúng ta đã giải quyết câu đố về sự tương đương bằng cách kiến ​​tạo nó. Việc kiến ​​tạo cái so sánh được thậm chí đã biện minh cho sự phản bội kép, bởi vì hai chủ không thể so sánh được đã trở nên có thể so sánh được thông qua việc kiến ​​tạo-dịch thuật. Khi đó, vẫn còn một thứ không thể dịch được cuối cùng mà ta khám phá ra thông qua việc kiến ​​tạo cái có thể so sánh được. Việc kiến ​​tạo này diễn ra ở cấp độ “ý nghĩa” («sens»). “Ý nghĩa” là từ duy nhất ta không bình luận, bởi vì ta mặc nhiên giả định nó. Thế nhưng, ý nghĩa ấy đã bị tách khỏi sự thống nhất giữa nó với thân xác của từ ngữ, cái thân xác ấy ta gọi là “chữ nghĩa” (« lettre »; ‘letter’). Những người dịch vui mừng vất bỏ nó, để không bị cáo buộc là “dịch sát mặt chữ”; dịch theo nguyên văn, chẳng phải là dịch từng chữ một sao? Thật đáng xấu hổ! Thật thô tháp! Thế nhưng, những người dịch xuất sắc, noi gương Hölderlin, Paul Celan, và Meschonnic trong lĩnh vực Kinh Thánh, đã thách thức chống lại ý nghĩa cô lập, ý nghĩa tách khỏi con chữ, chống lại chính con chữ. Họ rời bỏ nơi trú ẩn thoải mái của sự tương đương ý nghĩa, và liều bước vào những vùng đầy rủi ro: giọng điệu, hương vị, nhịp điệu, về khoảng cách, sự im lặng giữa con chữ, nhịp luật (metrics) và vần điệu. Chắc chắn, hầu hết những người dịch phản đối điều này, theo kiểu “mỗi người tự lo liệu lấy thân”, mà không nhận ra rằng việc dịch ý nghĩa đơn thuần thì đồng nghĩa với việc phủ nhận những thành tựu của ký hiệu học đương đại, sự hợp nhất giữa ý nghĩa và âm thanh, giữa cái được rép và cái rép (biểu đạt). Sự hợp nhất (l ‘unité) này trái ngược với định kiến ​​vẫn thấy ở Husserl trẻ: ý nghĩa được hoàn thành trong hành vi “ban phát ý nghĩa” (Sinngebung), hành vi này lại coi biểu đạt (Ausdruck) như một lớp áo bên thân thể, mà thực ra chính là cái hồn vô hình của ý nghĩa, tức Bedeutung. Hệ quả là chỉ có nhà thơ mới có thể dịch được nhà thơ. Nhưng nếu Berman còn sống, tôi muốn đáp lời – Berman thân mến, người đã rời xa chúng ta và chúng ta vẫn còn mong nhớ – tôi muốn trả lời rằng ông ấy đã đẩy xa việc kiến tạo cái so sánh được thêm một bậc, đến cấp độ của con chữ; dựa trên thành công đáng ngại của một Hölderlin nói tiếng Hy Lạp bằng tiếng Đức và có lẽ, của một Meschonnic, người nói tiếng Do Thái bằng tiếng Pháp… Vì vậy, sự dịch “sát mặt chữ” mà ông hằng theo đuổi, không phải là cách dịch từng từ một, mà là từng chữ một. Nhưng trong bài gặng xét gần như tuyệt vọng của ông về sự tương đương ý nghĩa-ý nghĩa, về việc kiến tạo cái có thể so sánh được, về cái so sánh được theo mặt chữ –liệu ông ấy có đạt được điều mà ông ấy tin tưởng không? Cái không dịch được luôn trở đi trở lại, và cuộc chiến chống lại nó cũng bất tận. Ý tưởng này được thể hiện qua hai cái tựa đề liên tiếp: Thử Thách của Cái KhácDịch hay Chữ hay Quán trọ Phương Xa.23

Bảng từ

PhápAnhViệt
comparablecomparablecái so sánh được
discoursdiscourselời ăn lẽ nói; diễn ngôn
diversitédiversitytính đa dạng
épreuve de l’étrangertest of the foreignthử thách của cái khác [lạ]
équivalence sans identitéequivalence without identitytương đương không đồng nhất
paradoxparadoxlẽ ngược; nghịch lý
pluralitémultiplicitytính nhiều; tính đa nguyên
référentreferentrép; đối tượng tham chiếu
signifiancesignificancetỏ/biểu nghĩa

Nốt chân

  1. + Dịch từ tiếng Anh, có tham khảo bản Pháp. Các nốt chân liên quan có dạng: “Pháp”; “Anh”. Đây là bài viết thứ ba trong “Sur La Tradition” của Paul Ricoeur. ↩︎
  2. + an initial untranslatable. Người dịch dùng tương đương “cái không thể dịch [được]” với “cái không dịch được”. ↩︎
  3. + tính đa nguyên; pluralité; multiplicity ↩︎
  4. + ngay từ nguyên tắc (a priori) ↩︎
  5. + Đề cập đến cách một ngôn ngữ biểu thị thời điểm xảy ra của một hành động hoặc sự kiện. Nó chủ yếu liên quan đến thì (tenses), thể (aspects), và thức (moods) của động từ. ↩︎
  6. + diễn ngôn ↩︎
  7. + signifiance; significance ↩︎
  8. + l’intraduisible initial; initial untranslatable ↩︎
  9. + l’intraduisible terminal; final untranslatable ↩︎
  10. + étranger; the foreigner: ở đây được dịch “người/cái khác” nhưng cũng hàm nghĩa “người nước ngoài; cái xa lạ, ngoại lai”. ↩︎
  11. + épreuve de l’étranger; test of the foreign ↩︎
  12. + tiến thoái lưỡng nan; dilemma ↩︎
  13. + tiến thoái lưỡng nan ↩︎
  14. + équivalence sans identité; equivalence without identity ↩︎
  15. Comparer l’incomparable; Comparing the Incomparable ↩︎
  16. « l ‘épreuve de l’ étranger » ↩︎
  17. + premiers gestes. Bản Anh: “first words” ↩︎
  18. + pli; fold ↩︎
  19. + Du temps ↩︎
  20. + temps; tenses ↩︎
  21. + L’esthétique transcendantale; The Transcendental Aesthetic ↩︎
  22. + « il n’y a pas…, il n’y a pas…, mais il y a… »; ‘there is not . . . there is not . . . but there is’ ↩︎
  23. + La traduction et la lettre ou l’auberge du lointain; Translation and the Letter or the Faraway Inn ↩︎

One response to “Một «nẻo băng qua»: dịch cái không dịch được”

Leave a Reply

Sạn & Sỏi

Lặt vặt

Tác giả

300 Năm Kant A.J.Ayer AI Austin Book Hunter Bảo Tích Chalmers Cách ngôn Câu hỏi lớn Dịch Einstein Emmanuel Gặng xét Heidegger Hy Lạp IRED Kant Khoa học Kripke Logic Nagel Nguyễn Hữu Liêm Nguyễn Trung Kiên Nguyễn Xuân Xanh NXB Tri Thức Phân Tích Phật giáo Popper Quine Russell Ryle Schopenhauer Stroll Sạn Tarski Tractatus Triết học ngôn ngữ Triết học phân tích Triết học Phật giáo Triết học tâm trí Trí năng người tạo Trần Thị Điểu Trần Đình Thắng Wittgenstein Đỗ Quốc Bảo

Discover more from Triết Vui

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading