Nguyễn Xuân Xanh chủ trương và cùng dịch với Đỗ Thị Thu Trà
IRED & NXB Tri Thức xuất bản
Viết tắt
ND: Bản dịch này của IRED & NXBTT
EINSTEIN:
– Bản Out of My Later Years (1956); A. EINSTEIN

Bản dịch này, về EINSTEIN, nhà vật lý và con người phi thường, nói chung tôi thích và đánh giá cao chất lượng dịch nghiêm túc.
Về sách thì đã có vài trang giới thiệu, tút này chỉ chỉ ra vài hạt sạn, giúp người đọc có thể đối chiếu lại đôi chỗ đọc khó hiểu và sách cũng mới lướt vào đêm qua, kiểu cưỡi ngựa xem hoa, thành thử nội dung xem qua cũng không nhiều.
1. (trang 21)
IRED
Trong hành động, tất cả chúng ta đều bị CẢM XÚC chi phối. Những CẢM XÚC này được tổ chức sao cho hành động của chúng ta, nói chung, phục vụ cho sự tự bảo tồn và bảo tồn giống loài.
EINSTEIN
We all are ruled in what we do by IMPULSES; and these IMPULSES are so organized that our actions in general serve for our self-preservation and that of the race.
NHẬN XÉT
IMPULSES không phải là CẢM XÚC!
TẠM DỊCH
Dành cho bạn đọc.
2. (trang 21)
IRED
Những CẢM XÚC cơ bản chi phối chúng ta dường như hoàn toàn trùng khớp với những CẢM XÚC tương tự ở những động vật bậc cao, cho dù hành động của chúng ta có vẻ rất khác biệt với hành động của chúng.
EINSTEIN
Though our conduct seems so very different from that of the higher animals, THE PRIMARY INSTINCTS are much alike in them and in us.
NHẬN XÉT
THE PRIMARY INSTINCTS không phải là Những CẢM XÚC cơ bản! Những lỗi loại này khá nhiều, có lẽ ND cho rằng chúng không phải trọng tâm vật lý của EINSTEIN, chỉ có điều chúng khiến EINSTEIN có kiến thức ngây ngô của cậu học sinh lớp 10 về những kiến thức không phải vật lý!
Chưa kể IMPULSES và INSTINCTS cùng được dịch là CẢM XÚC!
TẠM DỊCH
Dành cho bạn đọc.
3. (trang 22)
IRED
Tư duy là một yếu tố tổ chức trong con người, nó đóng vai trò trung gian giữa CÁC CảM XÚC CƠ BảN là TÁC NHÂN và các hành động là hệ quả.
EINSTEIN
Thought is the organizing factor in man, intersected between THE CAUSAL PRIMARY INSTINCTS and the resulting actions.
NHẬN XÉT
Cơ chế nhân (CAUSAL) quả (resulting) rất rõ ràng, không thể dịch là TÁC NHÂN ở đây!
TẠM DỊCH
Dành cho bạn đọc.
4. (trang 30)
IRED
Phương pháp khoa học thật ra có thể dạy chúng ta không gì khác ngoài sự hiểu BIếT CÁC Sự THậT KHOA HọC TRONG Sự CHI PHốI LẫN NHAU CủA CHÚNG BằNG KHÁI NIệM.
EINSTEIN
For the scientific method can teach us nothing else beyond HOW FACTS ARE RELATED TO, AND CONDITIONED BY, EACH OTHER.
NHẬN XÉT
Câu dịch không thể hiểu được vì dịch lạc nghĩa!
TẠM DỊCH
Thật ra phương pháp khoa học chỉ có thể dạy cho chúng ta biết các sự kiện liên hệ với nhau như thế nào, và chúng ràng buộc lẫn nhau ra sao.
5. (trang 30)
IRED
Nhưng mặt khác, rõ ràng là từ việc nhận thức về cái đang LÀ, không có con đường nào dẫn đến cái nên LÀ.
EINSTEIN
Yet it is equally clear that knowledge of what IS does not open the door directly to what should BE.
NHẬN XÉT
– “Cái đang LÀ” và “cái nên LÀ” thuộc loại BỆNH/TẬT “LÀ” như đã nói trong tút trước (Xem ở đây: )
– Đoạn theo sau minh hoạ rất rõ hai cụ từ này và xa hơn đó chính là vấn đề Hume (Hume’s problem hay Hume’s guillotine, tức Is–ought problem), có thể xem thêm tại đây:
https://en.wikipedia.org/wiki/Is%E2%80%93ought_problem
TẠM DỊCH
Dành cho các bạn yêu thích dịch thuật.
6. (trang 33, 34)
IRED
Thay vì hỏi tôn giáo là gì, tôi muốn trước hết hỏi: điều gì đặc trưng cho khát vọng của một người mà tôi có ấn tượng là kẻ có ĐỨC TIN?
EINSTEIN
At first, then, instead of asking what religion is I should prefer to ask what characterizes the aspirations of a person who gives me the impression of BEING RELIGIOUS:…
NHẬN XÉT
Người dịch có lẽ không ý thức rõ về những chữ, tuy be bé, nhưng sức mạnh của chúng lại rất mạnh. Thành thử, các chữ ‘tôn giáo’, ‘đức tin’,… sử dụng không chặt chẽ. Tạm nói thế này, “belief” thường được dịch là “đức tin” trong các tôn giáo một thần: “đức tin” là tin có một “thượng đế toàn năng”; với những tôn giáo không có khái niệm “thượng đế”, Phật giáo chẳng hạn, khi đó, có thể dịch là “niềm tin”, ví dụ “niềm tin” vào sự đầu thai. Xu hướng hiện đại, có những vị, EINSTEIN là một trong số đó, không phải là người có “đức tin”, “niềm tin” thuộc bất cứ tôn giáo có tổ chức nào, nhưng ông vẫn nhấn mạnh khái niệm “BEING RELIGIOUS”, “MANG TÍNH TỐN GIÁO”, điều đó khiến ông không sa vào bất cứ một cách nhìn hẹp hòi về tồn giáo!
7. (trang 123)
IRED
“1. Chất điểm bất biến không thay đổi về PHẨM CHẤT”
EINSTEIN
“(1) Mass points with INVARIABLE MASS”
NHẬN XÉT
Câu ngắn rất đơn giản mà ND tự làm khó mình và làm khó người đọc phải đoán qua cách dịch bị biến đổi “PHÂM CHẤT”!
Chưa kể cụm loằng ngoằng “bất biến không thay đổi”!
Thử xem định nghĩa của CHẤT ĐIỂM:
CHẤT ĐIỂM – vật mà HÌNH DạNG VÀ KÍCH THƯớC của nó có thể bỏ qua khi nghiên cứu chuyển động. Có thể xem chất điểm như một vật KHÔNG CÓ THể TÍCH VÀ TOÀN Bộ KHốI LƯợNG TậP TRUNG TạI MộT ĐIểM. Khái niệm chất điểm chỉ là quy ước và có tính tương đối : Khi nghiên cứu chuyển động của Quả Đất quanh Mặt Trời có thể xem Quả Đất là chất điểm, nhưng khi nghiên cứu chuyển động tự quay quanh trục của nó, lại không thể xem Quả Đất là chất điềm được. Trong vật lý phân tử, người ta coi các phân tử khi lý tưởng gần như những chất điểm, nhưng trong vật lý hạt nhân, lại không thể coi các hạt cơ bản như những chất điềm, dù chúng vô cùng nhỏ bé.
(TỪ ĐIỂN VẬT LÝ, TẬP 1, NXBKHKT 1982)

Đến đây, người đọc chắc chắn sẽ bần thần với câu “Chất điểm bất biến không thay đổi về PHẨM CHẤT”!
TẠM DỊCH
“1. Chất điểm [thì ] có KHỐI LƯỢNG không đổi.”
8. (trang 78)
IRED
Điều vĩnh hằng không thể hiểu được Ở thế giới là tính hiểu được CỦA nó.
EINSTEIN
“The eternal MYSTERY of the world is its comprehensibility.”
Câu Đức có hai dị bản:
“Das ewige GEHEIMNIS der Welt ist ihre Begreifbarkeit.” (AUS MEINEN SPATEN JAHREN – 2 Auflage / 1953)
“Das ewig Unbegreifliche an der Welt ist ihre Begreiflichkeit.” (Người dịch cước chú)
NHẬN XÉT
Sử dụng “Ở”, “CỦA” làm câu rất khó hiểu, trong khi như ND cũng nói, đây là câu rất nổi tiếng của EINSTEIN!
TẠM DỊCH
Vì đây là một trong những câu nổi tiếng của Einstein, xin mời bạn đọc dịch lại sao cho thật HAY!
9. (trang 36)
IRED
Đối với những quy tắc này, hay những ĐịNH LUậT Tự NHIÊN, đòi hỏi TÍNH HIệU LựC KHÁI QUÁT và không có ngoại lệ – KHÔNG ĐƯợC CHứNG MINH”.
…
Cước chú (của người dịch)
Cụm từ “không được chứng minh,” not proven, nicht bewiesen, có lẽ GÂY HƠI KHÓ HIểU cho độc giả, vì chúng ta nghĩ rằng định luật khoa học thì cần phải được chứng minh, và có tính hiệu lực không tranh cãi. Nhưng có lẽ EINSTEIN muốn nói, ĐÓ MớI CHỉ LÀ CHƯƠNG TRÌNH HOạT ĐộNG, như câu nói tiếp theo, và mệnh đề mong muốn có thể được chứng minh hoàn toàn hay không, đó là chuyện khác. (ND)
EINSTEIN
For these rules, or LAWS OF NATURE, absolutely general validity is requIRED—NOT PROVEN.
NHẬN XÉT
- ND (ở đây tôi đoán là Ts Nguyễn Xuân Xanh) HƠI ĐÚNG khi cho rằng “Cụm từ ‘không được chứng minh,’ not proven, nicht bewiesen, có lẽ GÂY HƠI KHÓ HIểU cho độc giả”!
Nhưng khi giải thích (trong cước chú) để cho người đọc hiểu ra, thì VIỆC GIẢI THÍCH lại làm cho họ HẾT HIỂU!
Đối với “định luật tự nhiên”, chữ linh hồn ở đây là chúng phải có “HIỆU LỰC KHÁI/TỔNG QUÁT” và ở đây, bạn đọc sách vật lý, chắc chắn sẽ biết khái niệm “UNIFORMITY OF NATURE” là tơm vô cùng quan trọng để hiểu được lý luận của Hume suốt những trang này!
Có thể tạm định nghĩa “UNIFORMITY OF NATURE” là “giả định cho rằng những định luật và tiến trình trong tự nhiên mà chúng ta quan sát được (trong khoa học ngày nay) luôn giống như trong vũ trụ từ quá khứ và có hiệu lực như nhau KHẮP NƠI trong vũ trụ – Nói cách khác chúng có hiệu lực TỔNG QUÁT: Định luật chuyển động của Newton không những đúng ở đây, mà nó còn đúng bất cứ nơi nào trong vũ trụ, và dĩ nhiên, điều này chỉ là giả định, KHÔNG THỂ CHỨNG MINH.”
Xem thêm: https://en.wikipedia.org/wiki/Uniformitarianism





Leave a Reply