Hai giáo điều của thế đứng thường nghiệm

Trần Đình Thắng dịch; eVersion 0.32

†20 Xim thường nghiệm[2] hiện đại phần lớn phụ thuộc vào hai giáo điều. Một giáo điều, là niềm tin vào sự phân chia cơ bản nào đó giữa những chân lý phân tích (hoặc dựa trên những ý nghĩa độc lập với các sự kiện[3]), và những chân lý tổng hợp (hoặc dựa trên sự kiện). Giáo điều kia là xim quy gọn[4], niềm tin cho rằng mỗi phát biểu có ý nghĩa đều tương đương với một số cấu trúc logic dựa trên các tơm (term) rép đến kinh nghiệm trực tiếp[5]. Tôi cho rằng cả hai giáo điều này đều không có cơ sở. Nếu từ bỏ chúng, thì một mặt, ta sẽ xoá bỏ được đường ranh giữa siêu hình học tư biện và khoa học tự nhiên; và mặt khác, [bản thân ta] có thể sẽ chuyển hướng sang xim thực dụng.[6]

1. Bối cảnh tính phân tích

Khi Hume phân biệt quan hệ giữa các ý tưởng (ideas) với quan hệ giữa những sự kiện, cùng với sự phân biệt của Leibniz giữa chân lý [của] lý tính (truths of reason) và chân lý của sự kiện (truths of fact), cả hai đã báo trước sự phân biệt giữa chân lý phân tích và chân lý tổng hợp của Kant. Leibniz cho rằng chân lý lý tính thì đúng trong mọi thế giới có thể. Ngoài cách nói bóng bảy, hình tượng, câu này muốn nói rằng chân lý lý tính là những thứ không thể sai được. Tương tự như vậy, ta được bảo rằng những phát biểu phân tích được định nghĩa là những phát biểu sẽ tự mâu thuẫn nếu phủ định chúng. Nhưng định nghĩa này giải thích không được rõ lắm; vì khái niệm tự mâu thuẫn, vốn rất rộng mà định nghĩa về tính phân tích này yêu cầu, cũng cần được làm sáng tỏ như chính khái niệm [về] tính phân tích[7]. Hai khái niệm này là hai mặt của một đồng tiền đáng ngờ.

†21 Kant cho rằng phát biểu[8] phân tích là [loại] phát biểu chỉ gán cho chủ ngữ những gì đã bao hàm trong khái niệm về chủ ngữ. Biện bày (formulation) này có hai thiếu sót: nó bị giới hạn trong các phát biểu ở dạng chủ-vị, và nó phải viện đến khái niệm về sự bao hàm (containment) vốn chỉ mang tính ẩn dụ. Nhưng ý định của Kant sẽ được thấy rõ hơn qua việc ni dùng khái niệm tính phân tích (thay vì qua định nghĩa), do đó, có thể biện bày lại như thế này: một phát biểu gọi là phân tích khi nó đúng theo ý nghĩa và không phụ thuộc vào thực tại[9]. Tiếp tục theo hướng này, ta hãy xem xét khái niệm «ý nghĩa» vốn đã được giả định trước.

Hãy nhớ là ta không được đồng nhất ý nghĩa với sự gọi tên.[10] Các ví dụ của Frege[11] về ‘sao Hôm’ và ‘sao Mai’, ví dụ của Russell[12] về ‘Scott’ và ‘tác giả của Waverley’, đều làm rõ rằng các tơm có thể gọi tên cho cùng một thứ nhưng lại có ý nghĩa khác nhau. Trong ca tơm trừu tượng, sự phân biệt giữa ý nghĩa và tên gọi cũng quan trọng không kém. Các tơm ‘9’ và ‘số các hành tinh’ gọi tên cho cùng một cái gì[13] trừu tượng nhưng ý nghĩa của chúng có lẽ khác nhau; bởi vì để xác định chúng có chỉ đến cùng một ên nào đó hay không thì [ta] buộc phải quan sát qua thiên văn chứ không chỉ suy nghĩ về các ý nghĩa này.

Trên đây là các ví dụ về tơm đơn, cụ thể hoặc trừu tượng. Với tơm chung[14], hoặc cụm về[15], tình huống này vẫn giống như vậy tuy có phần hơi khác một chút. Không như mục đích của một tơm đơn là để gọi tên cho một ên trừu tượng hoặc cụ thể, còn tơm chung thì không; nhưng tơm chung có thể đúng với một ên, hoặc đúng với mỗi một trong nhiều ên, hoặc không đúng với bất cứ ên nào.[16] Lớp (class) chứa tất cả sự vật mà tơm chung áp dụng được thì được gọi là phần bao ngoài[17] của tơm này. Cũng như sự phân biệt giữa ý nghĩa của một tơm đơn và sự vật được gọi tên, ta cũng phải phân biệt y như vậy giữa ý nghĩa của một tơm đơn và bao ngoài của nó. Ví dụ, các tơm chung ‘sinh vật có tim’ và ‘sinh vật có thận’ có lẽ có bao ngoài như nhau nhưng ý nghĩa lại khác nhau.[18]

Trong ca các tơm chung, giữa ý nghĩa với bao ngoài lại ít bị nhầm lẫn hơn giữa ý nghĩa với sự gọi tên trong ca các tơm đơn. Thực vậy, trong triết học, người ta thường đối lập giữa nét nghĩa[19] (hoặc ý nghĩa) với bao ngoài, hoặc dùng cách nói khác, giữa nét nghĩa (connotation) với bao ngoài (denotation).[20]

†22 Không còn nghi ngờ gì nữa, khái niệm bản chất[21] kiểu Aristotle là gốc gác của khái niệm hiện đại về nét nghĩa[22] hay ý nghĩa. Đối với Aristotle, «lý tính» của con người là bản chất, «việc có hai chân» chỉ là chợt sao[23]. Nhưng có một sự khác biệt quan trọng giữa thái độ này và thuyết về ý nghĩa. Từ góc nhìn thứ hai, thực sự có thể thừa nhận (nếu chỉ để tranh luận) rằng lý tính[24] đã được bao gộp trong ý nghĩa của từ ‘con người’ (man) trong khi tính có hai chân (two-leggedness) thì không; nhưng tính có hai chân có thể đồng thời được xem như có liên quan đến ý nghĩa của từ ‘hai chân’ (‘biped’) trong khi lý tính thì không. Vì vậy, từ góc nhìn của thuyết về ý nghĩa: với một cá thể thực sự–vừa là một người, vừa có hai chân– quả là vô nghĩa khi nói rằng lý tính của ni là bản chất và tính có hai chân của ni là chợt sao, hoặc ngược lại. Đối với Aristotle, sự vật thì có bản chất, nhưng ý nghĩa chỉ có ở những dạng ngôn ngữ. Khi «bản chất» ly dị đối tượng rép[25] và kết hôn với từ [ngữ], thì «bản chất» sẽ trở thành«ý nghĩa».[26]

Đối với thuyết về ý nghĩa, một câu hỏi nổi bật là bản tính của những đối tượng của nó: ý nghĩa, nó là cái gì? Có lẽ do trước đây ta không hiểu có sự khác biệt giữa ý nghĩa với rép[27] nên ta nảy sinh nhu cầu về [khái niệm] ý nghĩa (của một thứ gì đó). Một khi lý thuyết về ý nghĩa được tách hẳn khỏi lý thuyết rép, thì chỉ còn một bước nhỏ để nhận ra công việc chính của lý thuyết ý nghĩa chỉ đơn giản là tính đồng nghĩa (synonymy) của các dạng ngôn ngữ và tính phân tích của các phát biểu; bản thân ý nghĩa, với tư cách là thứ trung gian tối tăm, mơ hồ (obscure), cũng có thể bị loại bỏ.[28]

Một lần nữa ta phải đối mặt với vấn đề về tính phân tích. Thực ra, những phát biểu được coi là phân tích trong triết học thông thường thì chẳng cần phải tìm kiếm xa xôi. Chúng chia thành hai loại (class). Những phát biểu thuộc loại đầu tiên, có thể gọi là đúng về mặt logic (logically true). Tiêu biểu là:

(1) Không có người chưa kết hôn nào đã kết hôn.[29]

†23 Đặc điểm phù hợp của ví dụ này là nó không chỉ đúng như lúc này, mà vẫn đúng nếu các từ ‘người’ và ‘đã kết hôn’ được diễn giải theo mọi cách bất kỳ. Giả sử ta có trước một danh sách các từ nối logic (logical particles), bao gồm ‘no’, ‘un-’, ‘not’, ‘if’, ‘then’, ‘and’, v.v., thì nói chung, một chân lý logic là một phát biểu đúng và vẫn đúng theo mọi diễn giải lại các thành phần của nó ngoại trừ các từ nối logic này.

Nhưng cũng có một loại phát biểu phân tích thứ hai, tiêu biểu như:

(2) Không có người độc thân nào [đã] kết hôn. [30]

Đặc điểm của phát biểu này là nó có thể chuyển thành một chân lý logic bằng cách thay thế các từ đồng nghĩa; do đó (2) có thể được chuyển thành (1) bằng cách thay thế ‘người chưa kết hôn’ cho từ đồng nghĩa ‘người độc thân’ của nó.[31] Ta vẫn thiếu một đặc điểm thích hợp của loại phát biểu phân tích thứ hai này, và nói chung, của tính phân tích được — bởi vì trong phần mô tả bên trên, ta đã phải dựa vào khái niệm ‘[tính] đồng nghĩa’ mà chính khái niệm này cũng cần được làm rõ không kém gì khái niệm tính phân tích.

Trong những năm gần đây, để giải thích tính phân tích, Carnap thường viện đến cái mà ni gọi là những mô tả-trạng thái (state-descriptions)[32]. Một mô tả-trạng thái là thao tác gán đầy đủ[33] các giá trị đúng sai cho các phát biểu đơn (hoặc không phải là phức[34]) của ngôn ngữ. Tất cả các phát biểu khác của ngôn ngữ, theo giả định của Carnap, được xây dựng từ các cú thành phần (component clauses) của chúng bằng các công cụ logic quen thuộc, sao cho, với mỗi mô tả-trạng thái bất kỳ, ta có thể ấn định (fixed) giá trị đúng sai của mọi phát biểu phức bằng các luật logic có thể chỉ định được. Thế thì, một phát biểu được cho là phân tích khi nó đúng với mọi mô tả-trạng thái. Cách lý giải này được phỏng theo ‘đúng trong mọi «thế giới có thể»‘ của Leibniz.[35] Nhưng lưu ý, phiên bản này về tính phân tích sẽ đạt được mục đích của nó nếu các phát biểu đơn của ngôn ngữ [đấy] là độc lập lẫn nhau, không như các câu ‘John là người độc thân’ và ‘John đã kết hôn’.[36] Bằng không, sẽ có một mô tả-trạng thái gán trị đúng cho ‘John là một người độc thân’ và ‘John đã kết hôn’, và do đó, “Không có người độc thân nào đã kết hôn” hoá ra sẽ là tổng hợp thay vì phân tích theo tiêu chí đề xuất. Do đó, tiêu chí về tính phân tích theo các mô tả trạng thái, chỉ có thể dùng được trong các ngôn ngữ không có các cặp đồng nghĩa-ngoài logic (of extra-logical synonym-pairs), chẳng hạn như ‘người độc thân’ và ‘người chưa kết hôn’ – [tức là các cặp đồng nghĩa] sẽ dẫn đến các phát biểu phân tích ‘loại hai’. Tiêu chí theo mô tả trạng thái là một tái tạo lại tốt nhất của chân lý logic, chứ không phải của tính phân tích.

†24 Tôi không có ý cho rằng Carnap đang chệch biết[37] về điểm này. Ngôn ngữ mô hình đơn giản của ni với các mô tả trạng thái của nó chủ yếu không nhằm giải quyết vấn đề tổng quát của tính phân tích mà nhằm vào một mục đích khác, [đấy là] làm rõ khái niệm xác suất và quy nạp. Tuy nhiên, vấn đề của ta là tính phân tích; và ở đây, khó khăn lớn không nằm ở các phát biểu phân tích loại đầu tiên, các chân lý logic, mà nằm ở loại thứ hai, vốn phụ thuộc vào khái niệm tính đồng nghĩa.

2. Định nghĩa

Có những người thấy thật thoải mái khi nói rằng các phát biểu phân tích thuộc loại thứ hai, bằng định nghĩa, có thể được quy về các phát biểu thuộc loại thứ nhất, các chân lý logic. Ví dụ, ‘người độc thân’ được định nghĩa là ‘người chưa kết hôn’. Nhưng làm thế nào để ta biết rằng ‘người độc thân’ được định nghĩa là ‘người chưa kết hôn’? Ai đã định nghĩa nó như thế, và khi nào? Phải chăng ta phải trông cậy vào từ điển mới nhất và chấp nhận lối giải thích của người làm từ điển là luật không?[38] Rõ ràng điều này là đặt cày trước trâu[39]. Người soạn từ điển là một nhà khoa học thực nghiệm, công việc của họ là ghi lại những sự kiện, những thứ đã xảy ra (antecedent facts); và nếu ni chú thích ‘người độc thân’ là ‘người chưa kết hôn’ thì đó là vì ni tin rằng có một quan hệ đồng nghĩa giữa các dạng từ đấy, ẩn ngầm trong lối dùng chung (general usage) hoặc được ưa thích trước khi ni bắt tay vào việc. Khái niệm «đồng nghĩa» giả định ở đây vẫn còn phải được làm rõ, có lẽ bằng cách quy chiếu về hành vi ngôn ngữ. ‘Định nghĩa’, vốn là báo cáo của người soạn từ điển về một đồng nghĩa đã quan sát được, thì chắc chắn không thể dùng làm căn cứ cho sự đồng nghĩa ấy.

Word and Object Một trong mười tác phẩm triết học quan trọng nhất thế kỷ XX.

Thực ra, [đưa ra] «định nghĩa» không phải là một hoạt động dành riêng cho các nhà ngôn ngữ học. Các nhà triết học và khoa học thường có dịp để ‘định nghĩa’ một tơm khó hiểu và diễn giải nó bằng những từ quen thuộc hơn. Nhưng một định nghĩa như vậy, giống như định nghĩa của nhà ngôn ngữ học, thông thường chỉ mang tính biên soạn từ điển thuần túy, [chỉ] khẳng định một quan hệ đồng nghĩa đi trước lời giải thích đang được đưa ra.

Khi khẳng định tính đồng nghĩa thì chính xác ta muốn nói gì? Loại quan hệ qua lại lẫn nhau nào[40] phải [thoả các điều kiện] cần và đủ để hai dạng ngôn ngữ đang được mô tả thì đồng nghĩa thật sự? Những điều này rất không rõ ràng. Song bất kể những quan hệ này có thể là gì, chúng thường bắt nguồn từ lối dùng [ngôn ngữ] (usage). Khi các định nghĩa chọn ra các ví dụ đồng nghĩa cụ thể, thực ra chúng chỉ ghi nhận lại (report) những lối dùng mà thôi.[41]

†25 Tuy nhiên, cũng có những loại hoạt động định nghĩa khác, không giới hạn trong việc ghi nhận lại các từ đồng nghĩa đã có từ trước. Tôi đang nhớ đến cái mà Carnap gọi là sự giải rõ[42]— một hoạt động của các nhà triết học, kể cả của các nhà khoa học trong những khoảnh khắc mang tính triết học hơn của họ. Mục đích của sự giải rõ không chỉ đơn thuần là diễn giải tơm cần định nghĩa (definiendum) thành một từ đồng nghĩa hoàn toàn, mà thực ra là để cải thiện tơm cần định nghĩa này bằng cách tinh nét (refining) hoặc bổ sung ý nghĩa của nó. Nhưng ngay cả việc giải rõ, mặc dù không đơn thuần ghi nhận lại một đồng nghĩa đã có từ trước giữa tơm cần được định nghĩa và phần định nghĩa (definiens), nhưng nó vẫn dựa vào các đồng nghĩa khác đã có từ trước. Ta có thể xem xét vấn đề này như sau. Bất kỳ từ nào cần được giải rõ đều có một số ngữ cảnh, xét về tổng thể, phải đủ rõ và chính xác để sử dụng; và mục đích của việc giải rõ là để duy trì lối sử dụng trong các ngữ cảnh thích hợp này đồng thời làm rõ hơn lối sử dụng trong các ngữ cảnh khác. Do đó, để một định nghĩa nhất định phù hợp với các mục đích giải rõ, không bắt buộc tơm cần định nghĩa trong lối sử dụng trước đấy của nó phải đồng nghĩa với phần định nghĩa, mà chỉ cần mỗi ngữ cảnh thích hợp của tơm cần định nghĩa này, xét như một tổng thể trong lối sử dụng trước đó của nó, phải đồng nghĩa với ngữ cảnh tương ứng của các phần định nghĩa đấy.

Hai phần định nghĩa thay thế cho nhau được[43] thì có thể thích hợp như nhau cho các mục đích giải rõ nhất định, nhưng vẫn không nhất thiết đồng nghĩa với nhau. Chúng có thể thay thế lẫn nhau trong ngữ cảnh mong muốn nhưng lại khác nhau ở những nơi khác. Bằng cách nhấn mạnh vào một trong những phần định nghĩa này thay vì phần định nghĩa khác, một định nghĩa kiểu giải rõ, theo ‘sự quyết định’[44], sẽ tạo ra một quan hệ đồng nghĩa giữa tơm cần định nghĩa và những phần định nghĩa vốn không tồn tại trước đó. Nhưng một định nghĩa như vậy vẫn có chức năng giải rõ của nó, như đã thấy, đối với các quan hệ đồng nghĩa đã có từ trước.

Tuy nhiên, vẫn có một kiểu định nghĩa cực đoan không dính dấp gì đến các đồng nghĩa[45] có từ trước, cụ thể là, kiểu định nghĩa giới thiệu các ký hiệu mới, quy ước rõ ngoài[46] chỉ nhằm mục đích viết tắt. Trong ca này, từ cần định nghĩa sẽ đồng nghĩa với phần định nghĩa, đơn giản bởi vì nó đã được tạo ra cốt để đồng nghĩa với phần định nghĩa này. Ở đây ta có một trường hợp quan hệ đồng nghĩa thực sự rõ ràng được tạo ra bằng định nghĩa; nếu tất cả các loại đồng nghĩa đều có thể lý giải được (intelligible) như vậy. Trong các ca khác, định nghĩa sẽ dựa vào quan hệ đồng nghĩa thay vì giải thích nó.

†26 Từ ‘định nghĩa’ nghe có vẻ an toàn một cách nguy hiểm, chắc là do nó xuất hiện thường xuyên trong các bài viết logic và toán học. Bây giờ ta có thể đi sâu một chút để đánh giá ngắn gọn về vai trò của định nghĩa trong các bộ môn hình thức (formal work).

Trong các hệ logic và toán học, ta có thể tìm kiếm một trong hai kiểu tiết kiệm[47] vốn đối lập với nhau[48], mỗi kiểu đều có ích theo cách riêng của nó. Một mặt, ta có thể tìm kiếm sự tiết kiệm theo nghĩa hiệu quả, nghĩa là có thể phát biểu dễ dàng, gọn gàng về các quan hệ thuộc mọi loại. Kiểu tiết kiệm này thường đòi hỏi phải diễn đạt nhiều khái niệm (concept) bằng các ký hiệu (notations) đặc biệt, ngắn gọn. Tuy nhiên, loại thứ hai thì ngược lại, ta có thể tìm kiếm sự tiết kiệm trong ngữ pháp và vốn từ[49]: ta phải cố gắng tìm ra số lượng tối thiểu các khái niệm cơ bản, sao cho mỗi khái niệm này sẽ ứng với một ký hiệu đặc biệt (distinctive notation). Do đó, bất kỳ khái niệm nào khác đều có thể biểu đạt bằng cách kết hợp và dùng lại các ký hiệu cơ bản này. Theo một nghĩa nào đó, kiểu tiết kiệm thứ hai này không thực tế lắm, vì sự ít ỏi, nghèo nàn của các ký hiệu cơ bản[50] có xu hướng làm cho việc diễn đạt trở nên dài dòng hơn. Nhưng nó lại thực tế theo một cách khác: bằng cách giảm các tơm và hình thức cấu trúc tạo nên ngôn ngữ đến mức nhỏ nhất, nó làm đơn giản đáng kể cho những thảo luận lý thuyết về ngôn ngữ đó.

Mặc dù không tương thích với nhau, cả hai loại kinh tế này đều có giá trị theo những cách riêng của chúng. Do đó, đã phổ biến việc kết hợp cả hai loại kinh tế [51] này bằng cách xây dựng hai ngôn ngữ, ngôn ngữ này là một phần của ngôn ngữ kia. Ngôn ngữ bao hàm (inclusive language), mặc dù ngữ pháp và từ vựng sẽ dư thừa, song lại kinh tế về chiều dài thông điệp (message), trong khi ngôn ngữ bộ phận, gọi là ký hiệu cơ sở, lại kinh tế về mặt ngữ pháp và vốn từ[52]. [Ngôn ngữ] bao hàm (whole) và [ngôn ngữ] bộ phận được liên kết với nhau theo các run dịch (rules of translation), theo đó, mỗi biểu thức (idiom) không thuộc về ký hiệu cơ sở sẽ được xem là một cụm phức nào đó được xây dựng từ tập ký hiệu cơ sở (primitive notation). Những quy tắc dịch này là những định nghĩa vốn có mặt trong các hệ hình thức. Chúng nên được hiểu, không phải là những thứ phụ thuộc (adjuncts) của một ngôn ngữ, mà là các tương quan/liên kết (correlations) giữa hai ngôn ngữ, ngôn ngữ này là bộ phận của ngôn ngữ kia.

†27 Song những tương quan này (giữa hai ngôn ngữ) không phải là tùy tiện. Chúng được cho là để chỉ ra cách thức các ký hiệu cơ sở có thể thực hiện mọi mục đích của ngôn ngữ rườm rà[53], trong khi vẫn ngắn gọn và thuận tiện. Do đó, trong mỗi ca, ta có thể cho rằng tơm cần định nghĩa và các phần định nghĩa của nó sẽ liên hệ với nhau theo một trong ba cách vừa được lưu ý. Các phần định nghĩa có thể diễn đạt trung thành cho tơm cần định nghĩa vào trong một ký pháp hẹp hơn (narrower notation), vì thế vẫn giữ nguyên một đồng nghĩa trực tiếp[54] như lối sử dụng trước đó; hoặc trên tinh thần giải rõ, các phần định nghĩa này có thể cải thiện tơm cần định nghĩa dựa trên lối sử dụng trước đó; hoặc cuối cùng, tơm cần định nghĩa có thể là một ký hiệu mới được tạo ra, vừa được cấp ý nghĩa [mới] ngay tại chỗ.[55]

Do đó, trong tác phẩm hình thức và không hình thức (formal and informal work), ta sẽ nhận thấy rằng việc định nghĩa—ngoại trừ trường hợp cực đoan khi giới thiệu các ký hiệu mới theo quy ước rõ ngoài — sẽ xoay quanh các quan hệ đồng nghĩa trước đó. Việc nhận ra khái niệm định nghĩa không phải là chìa khóa cho tính đồng nghĩa và tính phân tích, thế thì ta hãy xem xét sâu hơn về tính đồng nghĩa và không nói gì thêm về định nghĩa.

3. Tính có thể thay thế lẫn nhau

Một gợi ý tự nhiên, đáng được xem xét kỹ lưỡng: tính đồng nghĩa của hai dạng ngôn ngữ chỉ là khả năng thay thế lẫn nhau của chúng trong mọi ngữ cảnh mà không ảnh hưởng gì đến trị đúng sai[56] của chúng— theo cách nói của Leibniz, tính có thể thay thế lẫn nhau chính là bảo toàn [trị] đúng sai[57].[58] Nốt: các từ đồng nghĩa được quan niệm như thế thậm chí không cần không mơ hồ, miễn là mức độ mơ hồ của chúng phù hợp với nhau (vaguenesses match).

†28 Nhưng không hoàn toàn đúng khi các từ đồng nghĩa ‘bachelor’[59] và ‘ unmarried man’[60] có thể thay thế nhau ở mọi nơi mà vẫn bảo toàn đúng sai. Trị đúng sẽ trở thành sai khi thay thế ‘bachelor’ cho ‘unmarried man’ dễ dàng thấy được qua ‘bachelor of arts’[61], ‘bachelor’s buttons’[62] hoặc các ca có đóng ngoặc (trích dẫn):

‘Bachelor’ có ít hơn mười chữ cái.[63]

Tuy nhiên, có thể gạt sang một bên những ca phản ví dụ như vậy bằng cách coi các cụm ‘bachelor of arts’ và ‘bachelor’s buttons’ và từ đóng ngoặc ‘ ‘bachelor’ ‘ như là một từ đơn không thể phân chia được. Sau đó, ta có thể quy định rằng tính có thể thay thế lẫn nhau salva veritate, tức là tiêu chuẩn (touchstone) cho tính đồng nghĩa, sẽ không áp dụng cho các lượt xuất hiện rời rạc trong một từ. Cách giải thích về tính đồng nghĩa này, nếu có thể chấp nhận được theo các giải thích khác, thật ra lại có điểm yếu là phải viện đến khái niệm về ‘từ’[64] đã có sẵn, mà chính điều này không phải là không gây ra những khó khăn nhất định khi xây dựng định nghĩa. Tuy nhiên, ta có thể xem đây là một bước tiến nhỏ trong việc đưa vấn đề tính đồng nghĩa về vấn đề về «bản chất của từ»[65]. Vì thế, ta hãy tiếp tục con đường này, xem như ta đã chấp nhận [khái niệm] ‘từ’ mà không cần phải tranh luận.

Câu hỏi còn lại là, liệu khả năng thay thế lẫn nhau salva veritate (ngoại trừ các lần xuất hiện trong các từ) có phải là điều kiện đủ mạnh để xác lập tính đồng nghĩa, hay ngược lại, liệu có những biểu thức khác nghĩa[66] vẫn có thể thay thế lẫn nhau được theo cách đó? Trước hết cần làm rõ ở đây rằng, ta không quan tâm đến tính đồng nghĩa theo nghĩa đồng nhất hoàn toàn (complete identity) về các liên kết tâm lý hay phẩm chất thơ ca; thực sự, không có hai biểu thức nào đồng nghĩa theo ý nghĩa như vậy. Ta chỉ quan tâm đến cái có thể được gọi là tính đồng nghĩa nhận thức (cognitive synonymy). Ta không thể nói đầy đủ về tính đồng nghĩa nhận thức khi chưa hoàn thành việc khảo sát này; tuy nhiên, ta đã biết một điều gì đó về nó từ nhu cầu phát sinh khi bàn về tính phân tích trong mục §1. Loại tính đồng nghĩa mà ta cần ở đấy chỉ đơn thuần là một phát biểu phân tích bất kỳ đều có thể chuyển thành một chân lý logic khi thay thế các từ đồng nghĩa với nhau. Thực vậy, đảo lại vấn đề[67] và [tạm] thừa nhận tính phân tích, thì ta có thể giải thích tính đồng nghĩa nhận thức của các tơm như sau (vẫn giữ ví dụ quen thuộc): nói rằng ‘bachelor’ và ‘unmarried man’ là đồng nghĩa nhận thức nghĩa là nói rằng phát biểu sau đây là phân tích:[68]

(3) Tất cả và chỉ những người độc thân là những người không kết hôn

†29 Điều ta cần là một cách giải thích về tính đồng nghĩa nhận thức mà không giả định trước khái niệm tính phân tích — nếu như ta muốn giải thích tính phân tích (theo chiều ngược lại) với sự trợ giúp của tính đồng nghĩa nhận thức như đã được trình bày trong §1. Quả thật, một cách giải thích độc lập như thế về tính đồng nghĩa nhận thức hiện ta đang xem xét, cụ thể là, tính thay thế lẫn nhau salva veritate ở mọi nơi, trừ bên trong từ [ngữ]. Để nối lại mạch lập luận này, câu hỏi đặt ra cho ta, liệu tính thay thế lẫn nhau như vậy có phải là điều kiện đủ cho tính đồng nghĩa nhận thức hay không. Ta có thể nhanh chóng đảm bảo câu trả lời là có, qua các ví dụ sau đây.

(4) Tất cả và chỉ duy những người độc thân ắt phải là những người độc thân[69]

Phát biểu này thì đúng thấy rõ, ngay cả ta hiểu ‘ắt phải’ theo một nghĩa rất hẹp, chỉ áp dụng cho các phát biểu phân tích thực sự. Vậy thì, nếu ‘người độc thân’ và ‘người chưa kết hôn’ có thể thay thế lẫn nhau salva veritate, khi thay thế ‘người chưa kết hôn’ cho một xuất hiện của ‘người độc thân’ trong (4), và kết quả là:

(5) Tất cả và chỉ duy những người độc thân ắt phải là những người chưa kết hôn

Giống như (4), câu (5) vẫn phải đúng. Nhưng nói rằng câu (5) đúng chính là nói rằng câu (3) là phân tích, và do đó ‘người độc thân’ và ‘người chưa kết hôn’ là đồng nghĩa [về mặt] nhận thức.

Ta hãy xem điều gì khiến lập luận trên đây bị cho là mánh khoé, nhập nhằng (hocus-pocus). Điều kiện thay thế lẫn nhau[70] salva veritate sẽ thay đổi tuỳ theo mức độ phong phú của ngôn ngữ mà ta đang xem xét. Lập luận trên giả định trước rằng ta đang làm việc với một ngôn ngữ đủ phong phú để chứa từ phụ[71] ‘ắt phải’[72], từ phụ này được cho là mang lại sự đúng sai khi, và chỉ khi được áp dụng cho một phát biểu phân tích. Nhưng liệu ta có thể chấp nhận một ngôn ngữ có chứa một từ phụ như vậy không? Phải chăng từ phụ này thực sự có ý nghĩa? Nếu trả lời ‘có’ thì y như cho rằng ta đã hiểu rõ về ‘phân tích’. Nhưng, lúc này, ta đang vất vả làm rõ điều này để làm gì?

†30 Lập luận của ta không quẩn hoàn toàn (flatly circular), mà chỉ gần gần như vậy. Nói bóng bẩy, nó có dạng của một đường cong khép kín trong không gian.

Khả năng thay thế lẫn nhau salva veritate là vô nghĩa trừ khi nó được quy định trong một ngôn ngữ có phạm vi (scope) theo các khía cạnh thích hợp. Bây giờ, ta xem xét một ngôn ngữ chỉ chứa các thành phần sau đây. Có một kho vô số các cụm về [cụm nói về] một ngôi (chẳng hạn, ‘F’, trong đó, ‘Fx’ có nghĩa là x là một người) và các cụm về nhiều ngôi (ví dụ, ‘G’ với ‘Gxy’ có nghĩa là x yêu y), phần lớn trong số này chỉ liên quan đến các chủ đề ngoài-logic[73]. Phần còn lại của ngôn ngữ này là logic. Mỗi câu đơn (atomic sentence) bao gồm một cụm về theo sau bởi một hoặc nhiều biến ‘x’, ‘y’, v.v.; và các câu phức được hình thành từ các câu đơn thông qua các hàm đúng sai[74] (‘not’, ‘and’, ‘or’, v.v.) và các lượng từ.[75] Trên thực tế, một ngôn ngữ như vậy cũng được hưởng những lợi ích của những mô tả và nói chung các tơm đơn, vì chúng có thể [được] định nghĩa theo ngữ cảnh[76] theo những cách đã biết.[77] Ngay cả các tơm đơn trừu tượng[78] gọi tên lớp, lớp của lớp, v.v., cũng có thể định nghĩa theo ngữ cảnh với điều kiện là bao[79] các cụm nói về giả định có chứa các cụm nói về hai ngôi “thuộc về lớp”.[80] Một ngôn ngữ như thế là đủ cho toán học cổ điển và diễn ngôn khoa học nói chung, trừ khi diễn ngôn khoa học đó có sử dụng các công cụ gây tranh cãi[81] như các điều kiện phản thực[82] hoặc các từ phụ modal như ‘ắt phải/có’[83].[84] Giờ thì, một ngôn ngữ thuộc loại này là ngôn ngữ bao ngoài[85], theo nghĩa sau đây: bất kỳ hai cụm nói về nào khớp về bao ngoài[86] (nghĩa là [cùng] đúng về cùng những đối tượng) thì có thể thay thế nhau salva veritate.[87]

†31 Do đó, trong một ngôn ngữ bao ngoài, khả năng thay thế lẫn nhau salva veritate không thể đảm bảo tính đồng nghĩa nhận thức theo loại (type) mong muốn.[88] ‘Người độc thân’ và ‘người không kết hôn’ thì có thể thay thế lẫn nhau salva veritate. Một ngôn ngữ bao ngoài không đảm bảo cho ta điều gì ngoài việc (3) thì đúng. Không có gì đảm bảo ở đây rằng sự tương đương/ăn khớp bao ngoài[89] giữa ‘người độc thân’ và ‘người chưa kết hôn’ là do ý nghĩa chứ không chỉ đơn thuần dựa trên những sự kiện chợt sao[90], giống như ca tương đương bao ngoài giữa ‘sinh vật có [trái] tim’ và ‘sinh vật có thận’[91].

Đối với hầu hết các mục đích, sự tương đương bao ngoài thì gần đúng nhất với tính đồng nghĩa mà ta cần quan tâm. Nhưng thực tế, sự tương đương bao ngoài vẫn cách xa tính đồng nghĩa nhận thức, tức là kiểu đồng nghĩa cần thiết để giải thích tính phân tích theo cách đã nêu ở §1. Kiểu đồng nghĩa nhận thức đòi hỏi ở đây phải cho phép ta đánh đồng (equate) tính đồng nghĩa của ‘người độc thân’ và ‘người chưa kết hôn’ với tính phân tích của (3), chứ không chỉ với tính đúng sai của (3).

Vì vậy, ta phải thừa nhận rằng, tính thay thế lẫn nhau salva veritate, nếu được hiểu trong một ngôn ngữ bao ngoài, thì không phải là điều kiện đủ để xác định tính đồng nghĩa nhận thức, theo ý nghĩa mong muốn nhằm dẫn đến tính phân tích theo cách ở §1. Nếu một ngôn ngữ có chứa từ phụ bao nghĩa ‘ắt phải’[92] theo nghĩa được ghi nhận vừa đây, hoặc các hằng logic[93] khác có cùng công dụng, thì khả năng thay thế lẫn nhau trong một ngôn ngữ như thế thực sự là một điều kiện đủ về tính đồng nghĩa nhận thức;[94] nhưng một ngôn ngữ như vậy chỉ [có thể] lý giải được (intelligible) khi khái niệm tính phân tích đã được hiểu (understood) trước đấy.

Việc cố gắng giải thích tính đồng nghĩa nhận thức trước, để từ đó dẫn đến tính phân tích như đã làm trong §1, đây có lẽ là cách tiếp cận sai. Thay vì thế, ta có thể thử giải thích tính phân tích bằng cách nào đó mà không viện đến tính đồng nghĩa nhận thức. Sau đó, nếu muốn, từ tính phân tích ta vẫn có thể suy ra tính đồng nghĩa nhận thức hoàn toàn thỏa đáng. Như đã thấy, tính đồng nghĩa nhận thức của ‘người độc thân’ và ‘người chưa kết hôn’ có thể giải thích như là tính phân tích của câu (3). Cách giải thích tương tự này cũng áp dụng được cho bất kỳ cặp cụm về một ngôi nào, và rõ thấy, ta có thể mở rộng nó cho các cụm về nhiều ngôi. †32 Các phạm trù cú pháp khác cũng có thể được xử lý gần như tương tự. Ta có thể nói rằng, các tơm đơn là đồng nghĩa nhận thức khi phát biểu đồng nhất (được tạo thành bằng dấu ‘=‘ giữa chúng) là phân tích. Các phát biểu có thể được xem là đồng nghĩa nhận thức khi điều kiện hai chiều của chúng (được tạo thành khi nối chúng bằng ‘nếu và chỉ nếu’) là phân tích.[95] Nếu ta muốn gộp tất cả các loại này (categories) thành một công thức (formulation) duy nhất, với cái giá là phải thừa nhận lại khái niệm “từ” (word) vốn đã được viện đến ở phần đầu của phần này. Khi đó, ta có thể mô tả bất kỳ hai dạng ngôn ngữ nào là đồng nghĩa nhận thức khi hai dạng này có thể thay thế lẫn nhau ( ngoại trừ những lần xuất hiện trong “các từ”) salva[96] (không có veritate) analyticitate.[97] Thực tế, một số câu hỏi mang tính kỹ thuật sẽ nảy sinh, chẳng hạn trong các ca nhập nhằng hoặc đồng âm khác nghĩa (homonymy). Song ta không nên dừng lại ở đấy, vì việc này chỉ khiến ta lạc lối. Thay vào đó, hãy bỏ qua vấn đề tính đồng nghĩa và quay lại vấn đề về tính phân tích.

4. Run (quy tắc) ngữ nghĩa

Ban đầu, dường như cách tự nhiên nhất để định nghĩa tính phân tích là dựa vào [một] phạm vi (realm) của *ý nghĩa. Khi xem xét kỹ hơn, việc viện đến *ý nghĩa lại phải nhường chỗ cho việc viện đến tính đồng nghĩa hoặc định nghĩa. Nhưng hóa ra định nghĩa chỉ là một thứ ma trơi[98], còn tính đồng nghĩa chỉ có thể hiểu rõ nhất chỉ khi trước đó phải viện đến bản thân tính phân tích. Vì thế, ta lại quay trở về vấn đề tính phân tích.

Tôi không biết liệu câu ‘Mọi thứ màu xanh lá đều mang tính trải rộng’[99] có phải là chắt phân tích hay không. Vậy, sự do dự của tôi qua ví dụ này có thực sự làm lộ ra một hiểu biết không đầy đủ, một nắm bắt không đầy đủ về ‘ý nghĩa’, về ‘màu xanh lá’ và ‘tính trải rộng’ không? Tôi nghĩ là không. Rắc rối không phải với ‘màu xanh lá’ hay ‘tính trải rộng’, mà là với [khái niệm] ‘phân tích’.

Người ta thường cho rằng, khó khăn trong việc phân biệt chắt phân tích với chắt tổng hợp trong ngôn ngữ đời thường là do sự mơ hồ của chính ngôn ngữ đấy. Sự phân biệt này sẽ rõ ràng khi ta có một ngôn ngữ nhân tạo chính xác với các ‘run[100] ngữ nghĩa’ rõ ngoài[101]. Song, như tôi sắp chỉ ra, ý kiến này cũng chỉ là một nhầm lẫn.

†33 Khái niệm tính phân tích mà ta quan tâm là cái quan hệ đáng ngờ (purported relation) giữa câu và ngôn ngữ: một câu S gọi là phân tích đối với[102] [một] ngôn ngữ L, và vấn đề đặt ra là phải làm rõ được cái quan hệ này một cách tổng quát, tức là, đối với biến ‘S ‘ và ‘L’. Trong ca ngôn ngữ nhân tạo, vấn đề này cũng không kém khó khăn hơn trong ca ngôn ngữ tự nhiên. Với các biến ‘S’ và ‘L’, thì cụm ‘S là phân tích đối với L’ cũng khó hiểu không kém, ngay cả khi ta giới hạn phạm vi của biến ‘L’ chỉ trong các ngôn ngữ nhân tạo. Tôi sẽ cố gắng làm cho điểm này rõ ràng ngay đây.

Khi liên quan đến các ngôn ngữ nhân tạo và các run ngữ nghĩa, ta sẽ tự nhiên tìm đến các công trình của Carnap. Các run ngữ nghĩa của ni có nhiều dạng khác nhau, và để làm rõ góc nhìn của tôi, tôi buộc phải phân biệt một số dạng nhất định. Ta hãy bắt đầu bằng giả định, có một ngôn ngữ nhân tạo L0, trong đó các run ngữ nghĩa được đặc tả – bằng đệ quy hoặc không đệ quy – cho tất cả các câu phân tích của L0. Các run này cho biết rằng chỉ có những câu nhất định, và chỉ những câu đấy, là các câu phân tích của L. Bây giờ, sự khó khăn là ở chỗ các run này chứa từ ‘phân tích’ mà ta không hiểu! Ta hiểu các biểu thức được các run này gán là phân tích, nhưng ta không hiểu tại sao những run đấy lại gán như vậy cho các biểu thức. Tóm lại, trước khi ta có thể hiểu một run được bắt đầu bằng ‘Một câu S là phân tích đối với ngôn ngữ L0, nếu và chỉ nếu . . .’, thì ta phải hiểu tơm quan hệ tổng quát ‘phân tích đối với’; ta phải hiểu ‘S là phân tích đối với L’, trong đó ‘S’ và ‘L’ là các biến.

Một cách khác, ta có thể thực sự xem «cái gọi là run» như một định nghĩa thông thường của một ký hiệu mới, đơn giản cho ‘phân tích đối với L0’. Ký hiệu này tốt hơn chỉ cần viết là ‘K’, để không gây chú ý vào từ ‘phân tích’. Rõ ràng ta có thể – vì các mục đích khác nhau hoặc thậm chí không có mục đích gì cả – chỉ định bất kỳ số lớp K, M, N, v.v. nào của các câu của L0; thế nhưng có nghĩa là gì khi nói rằng K (chứ không phải M, N, v.v.) là lớp các câu ‘phân tích’ của L0?

Khi nói rằng một câu là phân tích đối với L0, ta chỉ giải thích ‘phân tích đối với L0’, chứ không giải thích ‘phân tích’, hay ‘phân tích đối với’. Ngay cả khi ta muốn giới hạn phạm vi ‘L’ chỉ trong ngôn ngữ nhân tạo, ta vẫn chưa bắt đầu giải thích ‘S là phân tích đối với L’ với biến ‘S’ và ‘L’.

Trên thực tế, ta biết đủ về ý nghĩa của [khái niệm] ‘phân tích’, nghĩa là biết rằng, các câu phân tích được cho là đúng. †34 Thế thì ta hãy chuyển sang một dạng thứ hai của run ngữ nghĩa. Run này không nói rằng câu này câu kia là phân tích, mà chỉ đơn giản nói rằng các câu thế thế được gộp trong số các câu đúng (the truths). Ta sẽ không chỉ trích một run như vậy vì chứa từ ‘phân tích’ khó hiểu; và vì mục đích lập luận, ta có thể chấp nhận rằng tơm rộng hơn, tơm ‘đúng’ (‘true’), mà không gặp khó khăn gì. Một run ngữ nghĩa thuộc loại thứ hai, tức run chân lý[103], không nhằm chỉ định tất cả các câu đúng của ngôn ngữ – nó chỉ quy định, dù theo cách đệ quy hoặc theo cách khác, cùng với những câu khác chưa được chỉ định, một số câu nhất định là đúng. Ta có thể xem một quy tắc như vậy là rõ ràng. Do đó, theo cách mở rộng (derivatively), tính phân tích có thể được phân ranh (demarcated) như sau: một câu là phân tích nếu nó (không chỉ đúng mà) còn đúng theo quy tắc ngữ nghĩa.

Nhưng thực ra vẫn không có tiến triển gì. Thay vì viện đến từ không được giải thích là ‘phân tích’, giờ thì ta lại viện đến cụm ‘quy tắc ngữ nghĩa’ cũng chưa được làm rõ. [Ta] không thể xem là một run ngữ nghĩa đối với bất cứ câu đúng nào khi câu này nói rằng các câu thuộc vài lớp nhất định là đúng—nếu không, tất cả câu đúng sẽ là “phân tích” theo nghĩa là đúng theo các quy tắc ngữ nghĩa. Các quy tắc ngữ nghĩa chỉ có thể được phân biệt, xem ra, bằng chính việc chúng xuất hiện trên một trang dưới nhan đề “Các quy tắc ngữ nghĩa”; và bản thân cái tiêu đề này thì vô nghĩa.

Thực ra ta có thể nói rằng một câu là phân tích-đối vớiL0,[104] nếu và chỉ nếu nó đúng theo ‘các run ngữ nghĩa’ được đính kèm cụ thể thế này thế kia, nhưng khi đó ta thấy mình quay trở lại đúng tình huống đã được bàn đến ban đầu : ‘S là phân tích-đối với-L0, nếu và chỉ nếu …’ Một khi ta tìm cách giải thích ‘S là phân tích đối với L0’ một cách tổng quát cho biến L (ngay cả khi giới hạn ‘L’ trong các ngôn ngữ nhân tạo), thì việc giải thích ‘đúng theo các quy tắc ngữ nghĩa của L’ là không thể; vì tơm quan hệ ‘quy tắc ngữ nghĩa đối với’ cũng cần được làm rõ không kém gì [quan hệ] ‘phân tích đối với’.

†35 Có thể có chút ích lợi khi so sánh khái niệm quy tắc ngữ nghĩa với khái niệm chắt đầu[105]. Ta có thể dễ dàng nói một chắt đầu là gì đối với một bao[106] chắt đầu nhất định: chắt đầu là một phần tử của bao này. Quy tắc ngữ nghĩa là gì đối với một bao các run ngữ nghĩa nhất định thì cũng y như vậy. Nhưng nếu chỉ đơn thuần với một hệ ký hiệu (notation)cho sẵn, dù là toán học hay loại khác, và ngay cả khi hệ ký hiệu đó đã được hiểu một cách đầy đủ về các phép dịch hoặc điều kiện đúng sai của các chắt trong đó, thì ai có thể nói rằng chắt đúng nào trong hệ ký hiệu đó nên được xếp vào nhóm chắt đầu? Rõ ràng câu hỏi này vô nghĩa—cũng vô nghĩa y như việc hỏi điểm nào ở bang Ohio là điểm bắt đầu. Mọi bao hữu hạn (hoặc vô hạn nhưng có thể chỉ định theo cách hiệu quả) các câu (ưu tiên các câu đúng) đều có thể chọn làm một bao chắt đầu giống như bất kỳ lựa chọn nào khác. Từ ‘chắt đầu’ chỉ có ý nghĩa tương đối đối với một hoạt động tìm sâu[107] nào đó; ta chỉ áp dụng từ này cho một số câu nhất định trong chừng mực mà ta – vì nhu cầu của một giai đoạn, hoặc của một lập luận[108] – đang xét đến những chắt ấy như là nền tảng cho những chắt khác có thể được suy diễn từ đó, bằng một tập biến đổi mà ta đã chọn để quan tâm đến.[109] Giờ thì, khái niệm quy tắc ngữ nghĩa cũng hợp lý và có ý nghĩa y như khái niệm chắt đầu, nếu ta quan niệm nó theo tinh thần tương đối tương tự – nhưng lần này là tương đối đối với một hoạt động cụ thể nào đó, chẳng hạn, đào tạo những người không quen về các điều kiện đủ nhằm xác định tính đúng sai của các chắt trong một ngôn ngữ tự nhiên hoặc nhân tạo L. Nhưng theo góc nhìn này, không có một đặc điểm nào (signalization) cho thấy một lớp con các câu đúng nhất định của L xứng đáng là một quy tắc ngữ nghĩa, thay vì các lớp con khác; và nếu ‘phân tích’ có nghĩa là ‘đúng theo quy tắc ngữ nghĩa’, thì không có câu đúng nào của L là phân tích theo cách đặc quyền so với các câu đúng khác.[110]

Ta có thể hình dung ai đó sẽ phản đối, rằng ngôn ngữ nhân tạo L (không như ngôn ngữ tự nhiên) là ngôn ngữ theo nghĩa thông thường cộng với (plus) một bao các quy tắc ngữ nghĩa rõ ngoài—tạm nói thế này, toàn bộ cấu thành này có thể coi là một cặp có thứ tự[111]; và [rằng], có thể chỉ định các quy tắc ngữ nghĩa của L đơn giản là thành phần thứ hai của cặp L. Nhưng, bằng lập luận tương tự, thậm chí còn đơn giản hơn, ta có thể xây dựng ngôn ngữ nhân tạo L hoàn toàn như một cặp có thứ tự, có thành phần thứ hai là lớp các câu phân tích của nó; các câu phân tích của L đơn giản chỉ là các câu thuộc thành phần thứ hai này của L. Hoặc tốt hơn, ta có thể ngừng việc tự nắm tóc kéo mình đứng dậy.[112]

†36 Không phải mọi giải thích về tính phân tích mà Carnap và người đọc của ông đã biết đến đều được xem xét tường tận rõ ngoài trên đây, nhưng việc mở rộng sang các hình thức khác thì cũng không khó nhận thấy. Chỉ cần đề cập đến một yếu tố khác nữa đôi khi xuất hiện: đôi khi các quy tắc ngữ nghĩa trên thực tế là các quy tắc dịch sang ngôn ngữ đời thường, và khi đó, các chắt phân tích trong ngôn ngữ nhân tạo được công nhận là «phân tích» chỉ vì các bản dịch tương ứng của chúng sang ngôn ngữ đời thường vốn đã được xem là phân tích. Ở đây chắc chắn không thể soi sáng vấn đề phân tích từ phía ngôn ngữ nhân tạo.

Từ góc nhìn của vấn đề tính phân tích, khái niệm (notion) về một ngôn ngữ nhân tạo với các quy tắc ngữ nghĩa là một thứ ma trơi cực kỳ khó nắm bắt[113]. Các run ngữ nghĩa quy định các câu phân tích của một ngôn ngữ nhân tạo chỉ có giá trị trong chừng mực ta đã hiểu khái niệm về tính phân tích; chúng không giúp ta hiểu được điều này.

Việc viện đến những ngôn ngữ giả định thuộc loại nhân tạo và đơn giản có thể có ích để làm rõ tính phân tích, nếu như các yếu tố tâm trí hoặc hành vi hoặc văn hóa có liên quan đến tính phân tích—bất kể chúng như thế nào—được đưa vào mô hình đơn giản này bằng cách nào đó. Nhưng một mô hình chỉ xem tính phân tích như một đặc điểm không thể rút gọn được (irreducible character) thì khó có thể làm sáng tỏ vấn đề giải thích về tính phân tích.

Rõ ràng là chân lý nói chung phụ thuộc vào cả ngôn ngữ và sự kiện ngoài ngôn ngữ (extralinguistic fact). Câu ‘Brutus đã giết Caesar’ sẽ sai nếu thế giới đã khác đi theo những cách nào đấy, nhưng câu này cũng sai nếu từ ‘đã giết’ (killed) lại tình cờ có nghĩa là ‘sinh ra’ (begat). Vì vậy, người ta có xu hướng cho rằng tính đúng sai của một câu, nói chung, có thể phân tích thành một thành phần ngôn ngữ[114] và một thành phần sự kiện[115]. Với giả định này, thế thì hợp lý khi cho rằng, trong một số câu nào đó, thành phần sự kiện phải rỗng[116]; và [khi đó,] các câu này là phân tích. Song, bất chấp mọi tính hợp lý về mặt trước nghiệm[117] của nó, ta vẫn chưa thể vạch một đường ranh phân chia các câu phân tích và tổng hợp. Tin rằng có thể vạch ra đường ranh như vậy, thì đấy chỉ là một giáo điều phi thường nghiệm của những tay thường nghiệm, một tín điều siêu hình [học].

5. Thuyết chứng thực và xim quy gọn

†37 Trong tiến trình suy tư tẻ nhạt này, đầu tiên ta đã có một cái nhìn mù mờ về khái niệm ý nghĩa, sau đó là khái niệm tính đồng nghĩa nhận thức, và cuối cùng là khái niệm tính phân tích. Nhưng ta có thể hỏi, thế thuyết thực chứng ý nghĩa thì sao? Cụm từ này đã trở thành một câu cửa miệng của xim thường nghiệm đến nỗi quả là không khoa học nếu ta không nhìn sâu vào nó nhằm tìm ra chiếc chìa khóa có thể có cho vấn đề về ý nghĩa và các vấn đề liên quan.

Thuyết chứng thực ý nghĩa, vốn rộng khắp (phổ biến) trong truyền thống kể từ thời Peirce trở đi, cho rằng «ý nghĩa của một câu» chính là phương pháp xác nhận (confirming) hoặc bác bỏ (infirming) nó về mặt thường nghiệm. Một câu phân tích là trường hợp tới hạn (limiting case), nghĩa là, nó được xác nhận bởi bất cứ điều gì.

Theo như trong §1, ta cũng có thể bỏ qua câu hỏi về ý nghĩa như một ên (entity) và đi thẳng vào sự giống nhau (sameness) về ý nghĩa, tức là[118] tính đồng nghĩa. Vậy thì, thuyết chứng thực cho rằng, các câu là đồng nghĩa nếu và chỉ nếu chúng giống hệt nhau về phương pháp xác nhận hoặc bác bỏ thông qua kinh nghiệm.

Đây là cách giải thích (account) về tính đồng nghĩa nhận thức, không phải cho các dạng ngôn ngữ nói chung, mà chỉ riêng cho các câu.[119] Tuy nhiên, từ khái niệm về tính đồng nghĩa của câu, ta có thể rút ra khái niệm về tính đồng nghĩa cho các dạng ngôn ngữ khác, bằng những cân nhắc tương tự như ở cuối phần §3. Thực ra, giả sử ta đã có khái niệm ‘từ’ (‘word’), thì ta có thể nói rằng, hai dạng [ngôn ngữ] được cho là đồng nghĩa khi thay một dạng này bằng một xuất hiện của dạng kia trong bất kỳ câu nào (trừ các lần xuất hiện bên trong ‘các từ’[120]) sẽ tạo ra một câu đồng nghĩa. Cuối cùng, một khi đã có khái niệm tính đồng nghĩa cho các dạng ngôn ngữ nói chung, ta có thể định nghĩa tính phân tích dựa theo khái niệm tính đồng nghĩa và chân lý logic như trong phần §1. Với mục đích này, ta có thể định nghĩa tính phân tích đơn giản hơn nữa, chỉ dựa trên tính đồng nghĩa của các câu cùng với chân lý logic; không nhất thiết phải viện đến tính đồng nghĩa của các dạng ngôn ngữ khác ngoài câu. Vì ta có thể nói rằng, một câu gọi là phân tích chỉ khi nó đồng nghĩa với một câu đúng về mặt logic (logically true statement).

†38 Vì vậy, nếu ta thừa nhận thuyết chứng thực có thể lý giải đầy đủ cho tính đồng nghĩa của câu, thì sau cùng khái niệm phân tích vẫn có thể được giữ lại. Tuy nhiên, ta hãy ngẫm nghĩ đôi chút. Người ta cho rằng tính đồng nghĩa của câu chính là sự giống nhau trong phương pháp xác nhận hoặc bác bỏ theo thường nghiệm. Nhưng chính xác thì những phương pháp này là gì, và chúng được so sánh theo cách nào để xác định sự giống nhau? Nói cách khác, tính chất (nature) của quan hệ giữa một câu và những kinh nghiệm góp phần xác nhận hoặc bác bỏ câu này, [cái] tính chất đấy là cái gì?

Góc nhìn ngây thơ nhất về quan hệ này là cho rằng đó là quan hệ báo cáo trực tiếp.[121] Đây chính là xim quy gọn triệt để[122] : mọi câu có ý nghĩa đều có thể dịch được (translatable) sang một câu (đúng hoặc sai) về kinh nghiệm trực tiếp[123]. Xim quy gọn triệt để, dưới dạng này hay dạng khác, thực ra đã có trước cái gọi là thuyết chứng thực ý nghĩa. Chẳng hạn, Locke và Hume cho rằng mọi ý niệm (idea), phải hoặc là bắt nguồn trực tiếp từ kinh nghiệm cảm biết[124], hoặc là tổ hợp từ những ý niệm bắt nguồn như vậy. Theo một gợi ý của Tooke[125], ta có thể diễn đạt lại học thuyết này bằng kiểu nói ngữ nghĩa học: một tơm, để có ý nghĩa (significant), nó phải là một tên gọi của một dữ liệu cảm biết[126] hoặc là một kết gộp (compound) của những tên gọi đó hoặc là một dạng viết tắt cho một kết gộp như vậy. Như đã nêu, học thuyết này vẫn còn nhập nhằng dữ liệu cảm biết như là sự kiện cảm biết (sensory events) với dữ liệu cảm biết như là tính chất cảm biết (sensory qualities); và nó vẫn không rõ ràng về các cách thức kết gộp có thể chấp nhận được.[127] Hơn nữa, học thuyết này đặt ra những hạn chế không cần thiết và không thể chấp nhận được, khi áp dụng phương pháp đánh giá theo từng tơm-tơm cứng nhắc[128]. Sẽ hợp lý hơn và vẫn không vượt quá những giới hạn của cái mà tôi gọi là xim quy gọn triệt để[129], nếu ta có thể coi toàn bộ câu là một đơn vị có nghĩa[130]—do đó, ta chỉ cần yêu cầu mỗi câu, xét như một toàn thể (whole), có thể dịch sang ngôn ngữ dữ liệu-cảm biết, nhưng không phải theo cách dịch từng tơm một.

†39 Locke, Hume và Tooke chắc chắn đã hoan nghênh việc thay đổi (emendation) này, nhưng về mặt lịch sử, việc này cần phải chờ đợi một định hướng lại quan trọng trong ngữ nghĩa học—một định hướng lại, theo đó «yếu tố then chốt mang ý nghĩa» không còn là tơm nữa, mà là câu. Sự định hướng lại này, có thể thấy ở Bentham và Frege[131], chính là cơ sở cho khái niệm các ký hiệu không đầy đủ[132] được Russell định nghĩa khi sử dụng[133]; nó cũng ngầm lấp (implicit) trong thuyết chứng thực ý nghĩa, vì đối tượng của sự chứng thực là câu.

Xim quy gọn triệt để, hiện được hiểu rằng, câu là đơn vị [cơ bản], tự đặt ra nhiệm vụ đặc tả (specifying)một ngôn ngữ dữ liệu-cảm biết và chỉ ra cách [thức] phần còn lại của diễn ngôn có nghĩa (significant discourse) có thể dịch sang ngôn ngữ đó, từng câu một.[134] Carnap đã bắt tay vào dự án này với Aufbau.[135]

Ngôn ngữ được Carnap sử dụng làm điểm xuất phát không phải là ngôn ngữ dữ liệu-cảm biết theo nghĩa hẹp nhất có thể, vì ngôn ngữ này bao gồm các ký hiệu logic, kể cả lý thuyết bao bậc cao. Trên thực tế, nó bao gồm toàn bộ ngôn ngữ của toán học ròng. Tồn tại luận ngầm ẩn trong đấy (nghĩa là miền giá trị của các biến) không chỉ bao gồm các sự kiện cảm biết (sensory events) mà còn có lớp (class), lớp của các lớp(class of class), v.v. Những tay thường nghiệm sẽ giật mình trước sự hào phóng như vậy. Tuy nhiên, điểm bắt đầu của Carnap lại rất dè sẻn trong phần ngoài-logic[136] hoặc phần cảm biết. Nhờ một loạt các cấu trúc mà ni khai thác rất khéo léo các công cụ của logic hiện đại, Carnap đã thành công trong việc định nghĩa một loạt các khái niệm cảm biết bổ sung quan trọng. Với các cấu trúc này của Carnap, ta nằm mơ cũng không thể nghĩ rằng những khái niệm này lại được định nghĩa trên một cơ sở mong manh như vậy. Ni là tay thường nghiệm đầu tiên, không chỉ khẳng định «khoa học» có thể quy gọn được về «những kinh nghiệm trực tiếp», mà còn bắt tay nghiêm túc nhằm thực hiện việc quy gọn này.

†40 Nếu điểm bắt đầu này của Carnap là thỏa đáng, thì các cấu trúc của ni, như chính ni nhấn mạnh, chỉ là một phần nhỏ của toàn bộ chương trình. Ngay cả những câu đơn giản nhất về thế giới vật lý cũng chỉ mới phác hoạ sơ sài. Các đề xuất của Carnap về chủ đề này, mặc dù sơ sài, nhưng rất gợi mở (suggestive). Ni giải thích các lát-điểm không-thời[137] là các bộ bốn các số thực và dự kiến sẽ gán các tính chất cảm biết cho các lát-điểm theo các quy tắc nhất định. Tóm tắt nhanh, kế hoạch đấy, là gán những tính chất[138] cảm giác cho những lát-điểm theo cách sao cho đạt được một thế giới lười biếng nhất[139] [mà vẫn] tương thích với kinh nghiệm của ta. Nguyên tắc hành động ít nhất[140] này sẽ dẫn hướng ta trong việc xây dựng một thế giới từ kinh nghiệm.

Tuy nhiên, Carnap dường như không nhận ra rằng cách quy gọn các đối tượng vật lý của ni, không chỉ sơ sài, mà còn sai sót trên nguyên tắc. Theo run của ni, các câu có dạng ‘tính chất q tại lát-điểm x; y; z; t’ là các giá trị đúng sai được phân bổ theo cách cho phép cực đại hoá và cực tiểu hoá một số đặc tính tổng thể (over-all features) nhất định, và khi kinh nghiệm tăng lên, thì các giá trị đúng sai ấy sẽ được sửa đổi dần theo cùng tinh thần này. Tôi nghĩ rằng đây là một lược đồ hóa tốt (rõ thấy là quá mức đơn giản) về những gì khoa học thực sự làm; nhưng nó không đưa ra được một chỉ dẫn nào, thậm chí sơ sài nhất, về cách dịch một câu như ‘Tính chất q tại x; y; z; t’ sang ngôn ngữ dữ liệu cảm biết và logic được Carnap đã chọn ban đầu. Từ nối ‘tại’[141] vẫn là một từ nối được thêm vào nhưng không định nghĩa; các quy tắc này chỉ cho ta cách dùng nhưng không chỉ cách loại bỏ nó.

Sau này Carnap dường như đã nhận ra điều đấy; vì trong các bài viết về sau, ni đã từ bỏ hoàn toàn khái niệm cho rằng, các câu [nói] về thế giới vật lý có thể dịch sang các câu về kinh nghiệm trực tiếp. Xim quy gọn triệt để (radical form) từ lâu đã không còn xuất hiện trong triết học của Carnap.

Nhưng giáo điều của xim quy gọn, dưới một hình thức tinh vi, tinh tế hơn, vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến tư tưởng của những nhà thường nghiệm. Khái niệm này vẫn lây lất cho rằng đối với mỗi câu, hoặc mỗi câu tổng hợp, sẽ liên kết với hai loại (range) sự kiện cảm biết có thể có (possible sensory events). Một loại sự kiện duy nhất sao cho có bất kỳ sự kiện nào trong loại này thì sẽ làm tăng khả năng đúng của câu đấy. Và một loại sự kiện duy nhất khác mà sự xuất hiện của chúng sẽ làm giảm đi khả năng này. Ý tưởng này rõ thấy là ngầm lấp trong thuyết chứng thực ý nghĩa.

†41 Giáo điều của xim quy gọn vẫn còn sót lại trong giả định cho rằng, [ta] có thể xác nhận hoặc bác bỏ được cho từng câu đứng riêng lẻ. Gợi ý ngược lại của tôi, nói chung xuất phát từ học thuyết của Carnap về thế giới vật lý trong Aufbau. Tôi cho rằng, những câu của ta nói về thế giới bên ngoài phải đối mặt với phiên tòa (tribunal) của kinh nghiệm cảm biết, không phải từng cái một, mà như là [một] chỉnh thể[142].[143]

Giáo điều của xim quy gọn, ngay cả ở dạng yếu, vẫn có liên hệ chặt chẽ với một giáo điều khác – theo đó có một đường phân cắt (cleavage) giữa tính phân tích và tính tổng hợp. Quả thật, ta thấy mình đã bị dẫn từ vấn đề sau đến vấn đề trước thông qua thuyết chứng thực ý nghĩa. Nói cách trực tiếp hơn, hai giáo điều này rõ ràng đã củng cố cho nhau như sau: bao lâu ta xem việc khẳng định hoặc bác bỏ một câu nào đó nói chung là có ý nghĩa, thì dường như cũng có ý nghĩa khi nói về một loại câu hạn chế vốn được khẳng định theo cách rỗng[144], tức là đương nhiên đúng[145] bất kể điều gì xảy ra; và một câu như vậy được gọi là phân tích.

Thực tế, hai giáo điều này y hệt nhau tận gốc rễ. Gần đây chúng ta đã thấy rằng, nói chung, tính đúng sai của các câu rõ ràng phụ thuộc vào cả ngôn ngữ lẫn sự kiện ngoài ngôn ngữ; và chúng ta cũng nhận thấy rằng tình huống hiển nhiên này, không phải về mặt logic nhưng một cách khá tự nhiên[146], có thể dẫn đến một cảm giác [rằng] tính đúng sai của một câu, bằng cách nào đó, có thể phân tích thành thành phần ngôn ngữ và thành phần sự kiện. Nếu ta theo xim thường nghiệm, thì thành phần sự kiện phải được quy về một phạm vi các kinh nghiệm có thể xác nhận được. [Và] trong trường hợp cực hạn (extreme case), trong đó thành phần ngôn ngữ là [thành phần] quan trọng duy nhất, thì một câu đúng sẽ là câu phân tích. Nhưng tôi hy vọng rằng giờ đây ta đã hiểu sâu sắc hơn về việc phân biệt giữa phân tích và tổng hợp đã chống lại mọi phác thảo thô tháp một cách dai dẳng và ngoan cố dường nào. Ngoài ra, bên cạnh những ví dụ dựng sẵn, đóng gói (prefabricated) về những viên bi đen và trắng trong bình, tôi cảm nhận sâu sắc sự khó khăn bấy lâu nay trong việc xây dựng một lý thuyết rành mạch (explicit) về sự xác nhận câu tổng hợp theo cách thường nghiệm. Theo ý kiến hiện tại của tôi, việc nói về [một] thành phần ngôn ngữ và [một] thành phần sự kiện trong chân lý của bất kỳ câu riêng lẻ nào là vô nghĩa, và là gốc rễ của nhiều thứ vô nghĩa. Nếu xét tổng thể, khoa học đúng là phụ thuộc kép vào ngôn ngữ và kinh nghiệm; nhưng ta không thể lần ra tính hai mặt này[147]– một cách có ý nghĩa – nếu xét trong từng câu riêng lẻ của khoa học.

†42 Như đã nhận xét, ý tưởng định nghĩa một ký hiệu thông qua cách sử dụng[148], là một bước tiến so với xim thường nghiệm «không thể được»[149] do Locke và Hume ủng hộ, theo đó đòi hỏi phải quy gọn theo từng tơm một.[150] Câu, thay vì tơm, đã được Bentham xem là đơn vị chịu trách nhiệm phải giải thích theo phê phán của xim thường nghiệm. Nhưng điều tôi đang trăn trở là ngay cả khi coi câu để làm đơn vị, ta đã chia tấm lưới với mắt lưới quá mịn. Đơn vị của ý nghĩa [vê mặt] thường nghiệm là toàn bộ khoa học.[151]

6. Xim thường nghiệm không giáo điều

Toàn bộ cái gọi là sự biết hiểu hay niềm tin của ta – từ những vấn đề bình thường nhất của địa lý và lịch sử đến những định luật sâu sắc nhất của vật lý nguyên tử hay thậm chí của toán học và logic ròng – [chính] là một tấm vải nhân tạo và mối tiếp xúc, gần gũi với kinh nghiệm chỉ ở những rìa ngoài của nó.[152] Hoặc, ví von cách khác, toàn bộ khoa học giống như một trường lực có các điều kiện biên (boundary conditions) là kinh nghiệm. Một mâu thuẫn, xung đột với kinh nghiệm ở vùng rìa ngoài, sẽ đưa đến các điều chỉnh bên trong trường lực này. Những trị đúng sai (chân lý) của một số câu của chúng ta phải được phân phối lại. Việc đánh giá lại một số câu sẽ đưa đến việc đánh giá lại những câu khác, bởi vì các kết nối logic của chúng — mà các luật logic thực ra cũng chỉ là những câu khác của hệ thống, là những yếu tố khác nữa của trường này. Khi đánh giá lại một câu, ta buộc phải đánh giá lại một số câu khác, đó có thể là những câu được kết nối logic với câu đầu tiên, hoặc có thể chính là những câu về các kết nối logic đó. Nhưng các điều kiện biên, tức là kinh nghiệm thì không đủ xác định[153] toàn bộ trường này, đến mức ta hoàn toàn có nhiều lựa chọn để đánh giá lại những câu nào khi đối mặt một kinh nghiệm trái ngược. Không hề có kinh nghiệm cụ thể nào được gắn chặt với một câu cụ thể nào bên trong trường lực này, ngoại trừ gián tiếp thông qua những cân nhắc nhằm đem lại cân bằng cho toàn bộ trường này.

†43 Nếu góc nhìn này đúng, thì thật là sai lầm khi nói về nội dung kinh nghiệm của một câu riêng lẻ — đặc biệt nếu đó là một câu hoàn toàn nằm xa rìa ngoài kinh nghiệm của trường này. Hơn nữa, thật ngớ ngẫn khi cố tìm kiếm một đường ranh giữa «*câu tổng hợp» vốn dựa vào kinh nghiệm chợt sao và «*câu phân tích» luôn đúng bất kể điều gì xảy ra. Bất kỳ câu nào cũng có thể giữ cho đúng (held true) bất chấp điều gì xảy ra, nếu ta điều chỉnh đủ mạnh ở những nơi khác trong hệ thống [này]. Ngay cả một câu rất gần ở phần rìa ngoài cũng có thể giữ cho đúng khi đối mặt với kinh nghiệm chống lại (recalcitrant), bằng cách viện đến ảo biết[154] hoặc bằng cách sửa đổi các câu nào đó thuộc loại gọi là luật logic. Ngược lại, bằng cùng lập luận này, không có câu nào có thể tránh khỏi việc sửa đổi lại.[155] Thậm chí đã từng có đề xuất việc sửa đổi luật logic loại giữa[156] như một cách nhằm đơn giản hóa cơ học lượng tử. Về nguyên tắc, sự sửa đổi (shift) như vậy có khác biệt gì với việc Kepler thay thế Ptolemy, Einstein thay thế Newton, hoặc Darwin thay thế Aristotle?

Để làm cho bức tranh sống động, tôi đã nói về những khoảng cách khác nhau từ phần rìa cảm giác[157]. Giờ thì chúng tôi sẽ làm rõ khái niệm này mà không dùng ẩn dụ. Một số câu nhất định, mặc dù nói về các đối tượng vật lý hơn là về kinh nghiệm cảm biết, lại dường như đặc biệt gắn chặt (germane) với kinh nghiệm cảm biết — và theo cách có chọn lọc: một số câu nhất định gắn chặt với một số kinh nghiệm nhất định, những câu khác gắn chặt với những kinh nghiệm khác. Với những câu như thế, đặc biệt gắn chặt với những kinh nghiệm cụ thể, tôi hình dung chúng nằm sát ở phần rìa. Nhưng trong quan hệ ‘đặc biệt gắn chặt’ này, tôi không nghĩ gì hơn ngoài một sự liên kết lỏng lẻo, phản ánh khả năng lựa chọn tương đối của ta trên thực tế, để sửa đổi câu này thay vì câu kia khi gặp phải những kinh nghiệm chống lại. Ví dụ, ta có thể tưởng tượng những kinh nghiệm chống lại, theo đó ta chắc chắn sẽ có xu hướng điều chỉnh hệ thống của mình bằng cách đánh giá lại câu [rằng] có những ngôi nhà gạch trên phố Elm, cũng như những câu có liên quan về cùng chủ đề này.[158] †44 Ta có thể tưởng tượng những kinh nghiệm chống lại khác mà ta sẽ có xu hướng điều chỉnh kinh nghiệm đó với hệ thống của ta, bằng cách đánh giá lại câu cho rằng không hề có người thân ngựa[159], cùng với những câu tương tự. Như tôi đã nêu ra, ta có thể điều chỉnh một kinh nghiệm chống lại bởi bất kỳ đánh giá nào khác trong các vùng (quarter) khác nhau của toàn bộ hệ thống; nhưng, trong những ca mà ta đang tưởng tượng, xu hướng tự nhiên của ta, bóp méo hệ thống tổng thể càng ít càng tốt, sẽ khiến ta tập trung những sửa đổi vào những câu cụ thể này có liên quan đến nhà gạch hoặc người ngựa. Do đó, những câu này được cho là có liên hệ[160] đến kinh nghiệm sắc nét hơn (sharper) những câu mang tính lý thuyết về vật lý hoặc logic hoặc tồn tại luận. Có thể xem các câu mang tính lý thuyết thì nằm gần trung tâm của toàn bộ mạng lưới, tức là chúng hiếm khi có sự kết nối ưu tiên với dữ liệu cảm biết cụ thể.

Mạng lưới niềm tin của Quine

Là một nhà thường nghiệm, tôi vẫn nghĩ rằng lược đồ khái niệm của khoa học là một công cụ, sau cùng là để dự đoán kinh nghiệm trong tương lai dựa trên [những] kinh nghiệm trong quá khứ. Các đối tượng vật lý được đưa vào tình huống này như những trung gian dàng dễ[161] về mặt khái niệm – không phải do được định nghĩa dựa trên kinh nghiệm, mà chỉ đơn giản là «những mặc nhận không quy gọn được»[162], có thể so sánh với các vị thần của Homer về mặt nhận thức luận. Đối với tôi, với tư cách là một nhà vật lý không chuyên, tôi tin vào các đối tượng vật lý chứ không tin vào các vị thần của Homer; và tôi coi đấy là một sai lầm khoa học khi tin ngược lại. Nhưng về mặt nhận thức luận, các đối tượng vật lý và các vị thần chỉ khác nhau về mức độ chứ không khác nhau về bản chất (kind). Cả hai loại này có chỗ đứng trong quan niệm (conception) của ta như những mặc nhận văn hóa (cultural posits).

Về mặt nhận thức luận, thần thoại về các đối tượng vật lý vượt trội hơn hầu hết những thần thoại khác ở chỗ nó tỏ ra là một công cụ hiệu quả hơn các thần thoại khác trong việc tạo ra một cấu trúc dễ quản lý vào dòng chảy kinh nghiệm.

Việc mặc nhận không chỉ dừng lại ở các đối tượng vật lý cấp vĩ mô (macroscopic). Sự tồn tại của các đối tượng ở cấp độ nguyên tử cũng được [ta] mặc nhận nhằm làm cho các định luật về các đối tượng vĩ mô và cuối cùng là các định luật thuộc [thế giới] kinh nghiệm trở nên đơn giản và dễ quản lý hơn.Và ta không có nhu cầu hay lý do gì phải định nghĩa đầy đủ về các [thực] thể nguyên tử và hạ nguyên tử dựa trên các [thực] thể vĩ mô, ta cũng không đòi hỏi phải định nghĩa những thứ vĩ mô dựa trên dữ liệu cảm biết. Khoa học là sự tiếp tục cho «cái lẽ thường», và nó tiếp tục theo cách thiết thực cái lẽ thường này: thổi phồng (swelling) [cái] tồn tại luận để làm đơn giản lý thuyết.

†45 Các đối tượng vật lý, nhỏ và lớn, không phải là những mặc nhận duy nhất. Lực là một ví dụ khác; và thực sự ngày nay ta được bảo rằng đường ranh giữa năng lượng và vật chất đã bị xoá bỏ (lỗi thời). Hơn nữa, các [thực] thể[163] trừu tượng vốn là chất liệu (nội dung) của toán học – suy cho cùng là lớp, lớp các lớp, v.v., cũng được mặc nhận theo tinh thần này. Về mặt nhận thức luận, chúng là những thần thoại ngang hàng như các đối tượng vật lý và thần linh, không tốt hơn cũng không tệ hơn – chỉ khác ở mức độ ích lợi chúng giúp ta xử lý những trải nghiệm cảm biết.

Toàn bộ đại số các số hữu tỉ và số vô tỉ vốn không thể xác định đầy đủ (underdetermined) bởi đại số các số hữu tỉ, nhưng mượt mà và thuận tiện hơn; và nó bao gồm đại số các số hữu tỉ như một phần rời rạc, móp méo của nó.[164] Toàn bộ khoa học, toán học, tự nhiên và nhân văn, cũng tương tự, nhưng mức độ xác định không đầy đủ bằng kinh nghiệm còn cực đoan hơn. Phần rìa (edge) của hệ thống phải được giữ cho phù hợp với kinh nghiệm; phần còn lại, với mọi loại thần thoại và hư cấu, chỉ nhằm làm các định luật [trở nên] đơn giản hơn.

Câu hỏi tồn tại luận, theo góc nhìn này, thì đứng ngang bằng với câu hỏi về khoa học tự nhiên.[165] Hãy xem xét câu hỏi: liệu có nên thừa nhận lớp (class) là một [thực] thể (entity) hay không. Như tôi đã giải thích ở nơi khác,[166] [167] đây chính là câu hỏi: biến lượng từ (quantified variable) có thể có giá trị là lớp hay không. Carnap [6] [168] khẳng định rằng đó không phải là câu hỏi về sự kiện (matters of fact), mà là câu hỏi về sự lựa chọn một dạng ngôn ngữ dàng dễ, một lược đồ khái niệm (conceptual scheme) hoặc một bộ khung (frame) dàng dễ cho khoa học. Về điều này thì tôi đồng ý, nhưng chỉ với điều kiện là các giả thuyết khoa học nói chung phải được thừa nhận y như vậy. Carnap ([6], tr. 32n) đã thừa nhận[169] ni có thể duy trì một tiêu chuẩn kép cho các câu hỏi tồn tại luận và giả thuyết khoa học[170], bằng cách giả định một phân biệt tuyệt đối giữa tính phân tích và tính tổng hợp; và không cần phải nhắc lại, đây là một phân biệt mà tôi bác bỏ.[171]

†46 Vấn đề có lớp hay không, dường như là một câu hỏi thiên về lược đồ khái niệm sao cho thuận tiện hơn; vấn đề có những người mông ngựa[172], hay có những ngôi nhà gạch trên phố Elm hay không, dường như là một câu hỏi thiên về sự kiện. Nhưng tôi đã nhấn mạnh rằng sự khác biệt này chỉ nằm ở mức độ, và nó tuỳ thuộc vào khuynh hướng thực dụng mơ hồ của ta để điều chỉnh một tao (strand) này thay vì một tao khác của kết cấu khoa học khi phải điều chỉnh một số kinh nghiệm cụ thể chống lại. Xu hướng bảo thủ có vai trò trong những lựa chọn như vậy, kể cả trong việc tìm kiếm tính đơn giản.

Carnap, Lewis, và những người khác chọn góc nhìn thực dụng khi phải lựa chọn giữa các dạng ngôn ngữ, các bộ khung khoa học; nhưng xu hướng thực dụng của họ đã dừng ngay tại đường ranh tưởng tượng giữa tính phân tích và tính tổng hợp. Khi bác bỏ một đường ranh như thế, nghĩa là tôi tán thành một xu hướng thực dụng triệt để hơn. Mỗi người được trao cho một di sản khoa học cùng với một loạt kích thích cảm biết liên tục [từ thế giới]; và những cân nhắc hướng dẫn ni trong việc co kéo, uốn nắn di sản khoa học của mình nhằm phù hợp với những kích thích cảm biết liên tục – nếu hợp lý – thì đó là những cân nhắc thực dụng.[173]

NỐT CHÂN

  1. a. Phần lớn bài báo này là để gặng xét về tính phân tích mà tôi nêu ra, bằng lời nói cũng như thư từ trong nhiều năm qua. Món nợ của tôi, đối với những người tham gia khác trong các cuộc thảo luận đó, đặc biệt là Carnap, Church, Goodman, Tarski và White, thì rất lớn và không thể xác định được. Bài luận xuất sắc của White “The Analytic and the Synthetic: An Untenable Dualism”, trong John Dewey: Philosopher of Science and Freedom (New York, 1950), nói lên nhiều điều cần phải nói về chủ đề này; nhưng trong bài báo này, tôi chỉ chạm đến một số khía cạnh khác của vấn đề này. Tôi biết ơn TS. Donald L. Davidson về những lời gặng xét giá trị cho bản thảo đầu tiên này.
  2. + chủ nghĩa thường nghiệm; empiricism. Chữ ‘xim’, nói chung sẽ được dịch cho các cụm từ có đuôi là ISM.
  3. + matters of fact. Có cách dịch khác là ‘sự việc’.
  4. + reductionism
  5. + immediate experience
  6. + pragmatism
  7. a. Xem White, “The Analytic and the Synthetic: An Untenable Dualism”, John Dewey: Philosopher of Science and Freedom (New York: 1950), tr. 324.
  8. + Chúng tôi sẽ dùng lẫn lộn các chữ “phát biểu”, “câu”, “chắt [mệnh đề]” trong các bài viết này của Quine và ưu tiên dùng chữ “câu”.
  9. + tức sự kiện; fact
  10. b. Xem “On What There Is”, tr. 9. + Xem từ “Wyman và McX có thể đã thoáng nhận ra điều này ngay cả khi không có sự giúp đỡ của Russell…”
  11. + Xem HỆ GHI Ý, G. Frege, Trần Đình Thắng dịch, Domino 2020.
  12. + Xem ‘Về Sự Chỉ Gọi’, B. Russell, Trần Đình Thắng dịch, đăng trên trang https://tapchitriet.com/
  13. + thường được dịch là thực thể, thứ gì đó; entity. Tuy nhiên để tránh kiểu dịch ‘thực thể không thực’ (unreal entity), người dịch cố gắng né chữ này.
  14. + hoặc tơm tổng quát; general term
  15. + vị ngữ; predicate
  16. b. Xem “On What There Is”, tr. 10. + Xem từ “Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang vấn đề tồn tại luận của các phổ quát: tức là câu hỏi, liệu có những thứ như những thuộc tính, quan hệ, lớp, số, hàm hay không…”
  17. + ngoại diên
  18. + Ví dụ, có bốn người Hùng (60 tuổi), Hằng (48 tuổi), Dũng (59 tuổi), Hà (20 tuổi). Nếu quy định già (hơn 50 tuổi), trẻ (nhỏ hơn 50 tuổi), thì ứng với khái niệm già/trẻ, bốn người này sẽ được phân thành {Hùng, Dũng} / {Hằng, Hà}. Mặt khác nếu phân theo khái niệm nam/nữ thì bốn người này cũng phân thành {Hùng, Dũng} / {Hằng, Hà}. Nghĩa là cả hai cặp khái niệm này có cùng bao ngoài (coextension), nhưng rõ thấy các cặp khái niệm, tức nét nghĩa, nam/nữ và già/trẻ thì khác nhau.
  19. + nội hàm; intension
  20. + Cặp denotation/connotation (Mill) được dịch lần lượt là [phần/tập] bao ngoài (ngoại diên), [phần] nét nghĩa (hoặc phô nghĩa, có thể dùng như một từ động) – cách dịch này sẽ khá giống với ý nghĩa của reference/sense của G. Frege, tức là, Mill cho rằng mỗi tên chung (v.d. dog) đều có hai cấp độ ý nghĩa, bao ngoài (dog → {ki ki, …}, với ki ki là con chó cụ thể của tôi) và nét nghĩa (cũ: nội hàm, ví dụ, nét nghĩa của dog = {bốn chân, hay cắn, sủa, …}). Cặp từ này khá gần nghĩa với cặp extension/intension hiện nay (Sứ cũng dịch là ngoại diên/nội hàm). Nói chung, sự phân biệt giữa mỗi cặp chỉ là phân biệt giữa ý nghĩa của một tơm và tơm này trỏ đến cái gì. Nốt: ý nghĩa này của Mill thì không liên quan gì đến nghĩa trong từ điển ngày nay, trong đó, connotation là ‘nghĩa rộng, nghĩa liên tưởng, …’.
  21. + essence
  22. + (cũ) nội hàm
  23. + ngẫu nhiên; accidental
  24. + rationality
  25. + tức đối tượng/cái được rép; cái được biểu đạt; sở chỉ
  26. + (Quine ví von) … Meaning is what essence becomes when it is divorced from the object of reference and wedded to the word. Dịch thô: “Ý nghĩa là cái mà bản chất trở thành khi nó bị tách khỏi đối tượng được quy chiếu và kết đôi với từ ngữ.” Có thể dịch khác là: … Ý nghĩa là kết quả có được khi bản chất tách ra khỏi đối tượng rép của nó và kết hợp với từ [ngữ]. + Câu này nằm trong nỗ lực giải thiêng khái niệm “ý nghĩa” trong triết học ngôn ngữ và siêu hình học của Quine — đặc biệt là ông đang phê phán quan niệm truyền thống về bản chất và ý nghĩa, bắt nguồn từ Plato, Aristotle, và được kéo dài đến các triết gia trung cổ và hiện đại. Cụ thể: 1. Essence (bản chất): là khái niệm cổ siêu hình, chỉ “cái là gì” của một sự vật — cái làm cho một sự vật là chính nó. Thường gắn với đối tượng được rép (object of reference), như “tính đỏ giòn ngọt” là bản chất của quả táo đỏ. 2. Divorced from the object of reference (bị tách khỏi đối tượng được rép): Quine nói rằng khi ta không còn quan tâm đến cái thực thể cụ thể nào có “bản chất”, mà thay vào đó ta chỉ nhìn vào cái từ ngữ được dùng… 3. Wedded to the word (kết đôi với từ ngữ): … thì bản chất trở thành một tính chất ngữ nghĩa, một “ý nghĩa”, gắn với từ ngữ thay vì với sự vật thực. Nói cách khác, với Quine, “ý nghĩa” là một tàn dư của khái niệm bản chất, được tách khỏi nền tảng siêu hình học ban đầu.
  27. + tham chiếu; reference
  28. b. xem “On What There Is”, tr. 11f, và “The Problem of Meaning in Linguistics”, tr. 48f. + Xem từ “Tuy nhiên, McX lại nghĩ ra một mẹo (strategem) khác…”
  29. + No unmarried man is married.
  30. + No bachelor is married.
  31. + cụ thể, ta có thể chuyển “Không có người độc thân nào đã kết hôn” thành chân lý logic “Không có người chưa kết hôn nào đã kết hôn”.
  32. a. R. Carnap [3], tr. 9 ff.; [4], tr. 70 ff.
  33. + exhaustive assignment
  34. + noncompound
  35. + Với L là một ngôn ngữ (đối tượng) cho trước, một mô tả trạng thái (state-description) là một lớp các câu trong L, chứa tất cả các câu đơn [nguyên tử], sao cho, hoặc mỗi câu này hoặc phủ định của nó, nhưng không đồng thời cả hai và ngoài ra không chứa câu nào khác nữa. Gọi là một mô tả trạng thái, bởi vì nó hiển nhiên mô tả đầy đủ về một trạng thái có thể của vũ trụ các đơn lẻ tương ứng với tất cả các tính chất và quan hệ được biểu đạt bằng các vị từ của hệ thống này. Do đó, các mô tả trạng thái biểu diễn cho các thế giới có thể của Leibniz hoặc các sự kiện có thể của Wittgenstein. Giả sử có ba phát biểu đơn [nguyên tử] P1, P2 và P3 lần lượt là false, true và false và giả sử ‘→’ ( if-then) là hàm logic duy nhất trong L (nhắc lại, p→q sẽ sai khi p đúng và q sai, p→q sẽ đúng trong các trường hợp còn lại). Như vậy, xét các câu phức và được gán đúng sai như sau:

    P1 → P1 (true), P1 → P2 (true), P1 → P3 (true)


    P2 → P1 (false), P2 → P2 (true), P2 → P3 (true)


    P3 → P1 (true), P3 → P2 (true), P3 → P3 (true), v.v.


    Do đó, một phát biểu trạng thái của ngôn ngữ này sẽ vét cạn sự gán giá trị đúng sai của các câu phức phụ thuộc vào sự gán giá trị đúng sai của các câu đơn. Với ba câu đơn (do đó, có tám tổ hợp giá trị đúng sai), ta có thể tìm thấy các câu phức đúng, đó là P1 → P1, P2 → P2, P3 → P3, bất chấp các giá trị của P1, P2, P3; và theo Carnap, các câu phức này là phân tích.

  36. + “John là người độc thân” kéo theo “John chưa kết hôn”, nên chúng không độc lập.
  37. + hoặc nhầm tưởng (thường dịch là ảo tưởng; illusion). Theo định nghĩa của APA (Hội Tâm Lý Hoa Kỳ) thì hallucination (ảo biết) là một nhận biết sai và có liên quan đến các cửa biết (giác quan), nghĩa là có một cảm biết về thực tại mặc dù KHÔNG HỀ CÓ tác nhân kích thích bên ngoài. Ảo biết có thể ảnh hưởng đến bất kỳ cửa biết nào, nhưng ảo biết NGHE và ảo biết THẤY là phổ biến nhất. Ảo biết thường là một triệu chứng của rối loạn tâm thần, đặc biệt là tâm thần phân liệt, nhưng cũng có thể là kết quả của việc sử dụng chất kích thích, bất thường về thần kinh và các tình trạng khác. Điều quan trọng là phải phân biệt ẢO BIẾT (hallucination) với NHẦM/CHỆCH BIẾT (illusion), là sự diễn giãi sai về các kích thích cửa biết thực sự. Tàu phân biệt rất rõ: ảo giác vs. thác giác!
  38. + bản thân người soạn từ điển không thể có bất kỳ đặc quyền nào để thiết lập quan hệ đồng nghĩa giữa các từ.
  39. + to put the cart before the horse
  40. + interconnection; quan hệ hỗ tương
  41. + Vắn tắt, Quine cho rằng các từ điển không đủ để giải quyết vấn đề tính phân tích và tính đồng nghĩa.
  42. + explication. Có cách dịch là ‘hiển ngôn hoá’; Tàu dịch là ‘xiển minh’.
  43. + Two alternative definientia
  44. + ‘by fiat’. Tức là, theo quyết định tùy tiện.
  45. + Lưu ý: chữ “đồng nghĩa”, nếu không có gì khác thì hiểu là “tính đồng nghĩa”, “quan hệ đồng nghĩa” (synonymy). Còn “synonym” sẽ dịch chính xác là “từ đồng nghĩa”.
  46. + tường minh; explicitly
  47. + tức là kinh tế
  48. + mutually antagonistic types of economy
  49. + từ vựng
  50. + gốc: idiom
  51. + tức là ‘tiết kiệm’
  52. + từ vựng
  53. + redundant language. tức là ngôn ngữ chứa nhiều ký hiệu không cần thiết cho mục đích logic nhưng thuận tiện cho người dùng.
  54. b. Theo một biến nghĩa quan trọng của ‘định nghĩa’, quan hệ được bảo toàn này có thể là quan hệ yếu hơn của sự đồng ý đơn thuần trong tham chiếu; xem “ Notes on the Theory of Reference,”, tr. 132. Nhưng, tốt hơn nên bỏ qua định nghĩa theo nghĩa này trong kết nối hiện tại, không liên quan đến câu hỏi về tính đồng nghĩa này.
  55. + here and now
  56. + truth value; thường được dịch là chân trị.
  57. + (La tinh) salva veritate; Bảo toàn chân trị/đúng sai/sự thật (Leibniz: Những thứ đồng nhất với nhau thì có thể thay thế lẫn nhau mà vẫn bảo toàn chân lý).
  58. b. Xem Lewis [1],tr. 373.
  59. + người độc thân
  60. + người chưa kết hôn
  61. + cử nhân nghệ thuật
  62. + một loại hoa cúc
  63. + (gốc) Truths which become false under substitution of ‘unmarried man’ for ‘bachelor’ are easily constructed with the help of ‘bachelor of arts’ or ‘bachelor’s buttons’; also with the help of quotation, thus: ‘Bachelor’ has less than ten letters.
  64. + ‘word’
  65. + a problem of wordhood
  66. + heteronymy.
  67. + Turning the tables. Quine đang đảo ngược chiều suy luận: thay vì bắt đầu bằng khái niệm “đồng nghĩa nhận thức” để giải thích “tính phân tích” (analyticity), thì giờ tác giả giả định trước rằng đã có sẵn khái niệm “analyticity”, rồi dùng nó để giải thích lại “đồng nghĩa nhận thức”.
  68. a. Đây là tính đồng nghĩa nhận thức theo nghĩa chính và nghĩa rộng. Carnap [3], trang 56 ff.) và Lewis [2], trang 83 ff.) đã đề xuất cách thức, một khi khái niệm này có sẵn, một ý nghĩa hẹp hơn của tính đồng nghĩa nhận thức vốn thích hợp hơn cho một số mục đích nào đó có thể được suy ra. Nhưng sự phân chia đặc biệt này của việc xây dựng khái niệm nằm ngoài các mục đích hiện tại và không được nhầm với loại tính đồng nghĩa nhận thức rộng có liên quan ở đây.
  69. + theo cách tất yếu; necessarily
  70. + viết tắt của “điều kiện của tính có thể thay thế lẫn nhau”
  71. + phó từ, trạng từ; adverb
  72. + necessarily
  73. + extralogical subject matter
  74. + truth function
  75. Các trang 81ff, “New Foundations for Mathematical Logic”, chứa một mô tả về một ngôn ngữ như vậy, ngoại trừ trong đó chỉ có một vị từ, vị từ hai ngôi ‘∈‘.
  76. + contextually definable
  77. a. Xem, chẳng hạn, Mathematical Logic (Quine; New York, 1949; Cambridge, Mass., 1947), sec. 24, 26, 27; hay Methods of Logic (New York, 1950), sec. 37 ff. Xem “On What There Is”, tr. 5-8; xem thêm “New Foundations for Mathematical Logic,” tr. 85f; “Meaning and Existential Inference”, tr. 166f. + Xem từ “Wyman không phải là người đầu tiên chấp nhận lối thoát khác này…”
  78. + abstract singular term
  79. + tập hợp
  80. Xem “New Foundations for Mathematical Logic”, tr. 87.
  81. + debatable devices
  82. + contrary-to-fact conditionals
  83. + theo cách tất yếu; necessarily
  84. Về những phương tiện như thế, xem thêm “Reference and Modality”.
  85. + extensional. Một ngôn ngữ bao ngoài sẽ đưa ra ý nghĩa cho các tơm của nó bằng cách chỉ định các điều kiện cần và đủ khi chúng được sử dụng. Trong trường hợp từ tên [danh từ], điều này tương đương với việc chỉ định các tính chất mà một đối tượng cần phải có để được coi là một rép (sở chỉ) của tơm này. Ví dụ, một định nghĩa bao ngoài của từ ‘độc thân’ là ‘chưa kết hôn’. Định nghĩa này có hiệu lực vì ‘chưa kết hôn’ vừa là điều kiện cần vừa là điều kiện đủ để là ‘độc thân’.
  86. + hoặc tương đương bao ngoài; agree extensionally
  87. Đây là cái bản chất (substance) của Quine [1],*121.
  88. + Quine đang phân biệt giữa đồng nhất bao ngoài và đồng nghĩa nhận thức: Hai tơm có thể đúng với cùng một tập đối tượng → đồng nhất về mặt ngoại diên. Nhưng điều đó không có nghĩa chúng đồng nghĩa về mặt nhận thức — tức là thay thế từ này cho từ kia trong bất kỳ ngữ cảnh nào mà không làm thay đổi nội dung tri thức của mệnh đề. Ông xây dựng một loại ngôn ngữ cực kỳ hạn chế và chính xác (gần giống ngôn ngữ logic hình thức của Frege hoặc toán học hiện đại) để cho thấy rằng: Trong hệ thống ngôn ngữ như vậy, “tính thay thế lẫn nhau được salva veritate” không đủ để xác lập “đồng nghĩa nhận thức”. Như vậy, lập luận ban đầu — rằng salva veritate có thể làm tiêu chuẩn cho cognitive synonymy — sụp đổ khi ta xét đến ngữ cảnh của ngôn ngữ bao ngoài.
  89. + extensional agreement
  90. + ngẫu nhiên; accidental
  91. + extensional agreement of ‘creature with a heart’ and ‘creature with kidneys’
  92. + intensional adverb ‘necessarily’. Từ phụ (trạng từ) bao nghĩa là từ phụ làm thay đổi cách diễn dịch logic hoặc ngữ nghĩa của câu. 1. Ví dụ, “Necessarily, Socrates is a human being.” → Từ phụ “necessarily” làm cho câu mang nghĩa “Socrates ắt phải là một con người” hoặc “Socrates là một con người theo cách tất yếu” hoặc”Trong mọi thế giới có thể, Socrates là một người”, chứ không chỉ ở thế giới thực. 2. Đây là một từ phụ “bao nghĩa” vì nó làm cho phép thay thế đồng nghĩa (substitutivity) là không thể. Ví dụ, “Necessarily, the morning star is the morning star” (luôn đúng) và “Necessarily, the morning star is the evening star” (không đúng – dù về bao ngoài thì 2 từ này chỉ cùng một thực thể: sao Kim).
  93. +particle
  94. + Ví dụ, xét ‘mọi sinh vật có tim ắt phải là sinh vật có tim’ với ‘mọi sinh vật có tim ắt phải là sinh vật có thận’.
  95. Cụm ‘nếu và chỉ nếu’ được hiểu theo nghĩa hàm logic (truth functional sense). Xem Carnap [3], tr. 14.
  96. + vẫn bảo toàn
  97. + tức là, vẫn bảo toàn tính phân tích.
  98. + will-o’-the-wisp
  99. + ‘everything green is extended’. Tính trải rộng ~ quảng tính.
  100. + quy tắc; rule
  101. + tường minh; explicit
  102. + analytic for
  103. + rule of truth
  104. + ‘analytic-for-L0
  105. + tiên đề; postulate
  106. + tập hợp
  107. + act of inquiry
  108. + nguyên văn: “for the year or the argument”.
  109. + “Từ ‘chắt đầu’ chỉ có ý nghĩa tương đối với một hoạt động tìm sâu” – Quine muốn nói rằng, không có chắt nào tự bản thân nó là “chắt đầu” cả. Nó chỉ trở thành chắt đầu khi ta đặt nó vào một hệ thống lập luận, hay nói cách khác, khi ta đang tìm sâu hay xây dựng một lý thuyết, và chọn một số chắt nhất định làm cơ sở suy diễn trong một lý thuyết cụ thể. Và từ đó, suy diễn ra các chắt khác bằng logic, định nghĩa, quy tắc chuyển đổi,… Lưu ý: việc chọn các chắt đầu thường chỉ cho một giai đoạn, một công trình toán học, v.v. , tức là không có chắt đầu nào “vĩnh viễn”. Chúng chỉ là chắt đầu trong một bối cảnh suy luận cụ thể mà thôi. “…bằng một tập biến đổi mà ta đã chọn để quan tâm đến” có nghĩa là: những suy diễn từ chắt đầu đến chắt khác phụ thuộc vào quy tắc biến đổi mà ta chọn, chẳng hạn, quy tắc logic hình thức, quy tắc toán học, quy tắc diễn dịch trong một hệ hình ngôn ngữ học,… Nói cách khác: chắt đầu chỉ là chắt đầu trong một hệ thống suy diễn nhất định mà ta đang quan tâm. Có thể tóm lại toàn bộ đoạn này cho dễ hiểu: “Ta chỉ gọi một chắt là chắt đầu trong chừng mực ta đang xây dựng hoặc khảo sát một hệ thống suy diễn, và chọn nó làm cơ sở để dẫn ra những chắt khác theo các quy tắc suy luận cụ thể mà ta mong muốn. Ngoài bối cảnh này, ‘chắt đầu’ chẳng có nghĩa quan trọng nào cả.” Lấy ví dụ minh hoạ. Xem chắt đầu Euclid thứ 5: “Qua một điểm ngoài một đường thẳng, chỉ có duy nhất một đường thẳng song song với đường đó”. Từ chắt đầu này + các chắt đầu khác, ta có hình học Euclid. Trong bối cảnh tìm sâu hình học không gian cổ điển, ta gọi nó là chắt đầu. Nhưngtrong hệ hình học phi-Euclid: Lobachevsky, Gauss, Riemann… đã bác bỏ chắt đầu thứ 5 này, và thay vào đó bằng: “Qua một điểm ngoài một đường thẳng, có thể có vô số đường song song với đường đó.” Dẫn đến hình học hyperbolic, khác hoàn toàn hình học Euclid. Cùng một chắt, khi thì được coi là chắt đầu, khi thì bị loại bỏ — tuỳ vào hệ thống mà ta muốn tìm sâu. Quine nói rất đúng: “chắt đầu” chỉ là cái tên ta gán cho một chắt nhất định trong khuôn khổ một lý thuyết cụ thể.
  110. Đoạn trên không phải là một phần của bài luận hiện tại khi xuất bản lần đầu và việc này đã được Martin nhắc đến, (R. M. Martin, “ On ‘analytic’”, Philosophical Studies 3 (1952): 42-47.
  111. + ordered pair
  112. + …we might just stop tugging at our bootstraps altogether. Khẳng định không thể có cái gọi là chân lý phân tích, hoặc nói theo kiểu Wittgenstein, không có đường ranh sắc nét giữa phát biểu phân tích và phát biểu tổng hợp. Song rất khó để chứng minh phủ định. Một cách để chứng minh rằng một cái gì đó không tồn tại là chứng tỏ rằng bản thân nó mâu thuẫn trong [nội tại], hoặc một loại mâu thuẫn nào đó sẽ xuất hiện nếu nó tồn tại. Lập luận của Quine thì khác, ni lập luận y như trong vật lý, chẳng hạn, để bác bỏ sự tồn tại của một lực nào đó, thì: 1. không thể giải thích lực này theo những lập luận không giả định sự tồn tại của nó. 2. các hiện tượng viện đến lực này để giải thích thì có thể giải thích được mà không cần đến lực đấy. Vì vậy, sau khi thử một số cách giải thích khái niệm tính phân tích và nhận thấy rằng không thể giải thích được theo cách có đầy đủ thông tin, Quine tuyên bố rằng điều hợp lý là ‘ngừng việc tự nắm tóc kéo mình đứng dậy’- và kết luận rằng sự phân biệt giữa phân tích-tổng hợp chỉ là ‘một giáo điều phi thường nghiệm của những tay thường nghiệm, một giáo điều siêu hình’. (Kemp, Gary (2006). Quine: A Guide for the Perplexed)
  113. feu follet par excellence
  114. + linguistic component
  115. + factual component. Tức thành phần có liên hệ đến thế giới thực tại.
  116. + bằng không.
  117. + tiên nghiệm
  118. + bản gốc dùng chữ ‘hoặc’ (‘or’)
  119. Học thuyết này thực sự có thể được xây dựng bằng các tơm thay vì các phát biểu xét như các đơn vị. Do đó C. I. Lewis mô tả ý nghĩa của một tơm là “một tiêu chí trong tâm trí, bằng cách rép đến việc ta có thể áp dụng hoặc từ chối áp dụng cách diễn đạt trong trường hợp các sự vật hoặc tình huống được trình bày, hoặc tưởng tượng” (Carnap, Meaning and Necessity, tr. 133.). – Xem Hempel để hiểu rõ sự thăng trầm của thuyết chứng thực ý nghĩa, song tập trung vào vấn đề về tính có ý nghĩa thay vì tính đồng nghĩa và tính phân tích.
  120. + ‘words’
  121. + báo cáo trực tiếp; direct report
  122. + (Tàu) chủ nghĩa giản hoá triệt để; radical reductionism: Đây là góc nhìn cho rằng mọi câu có nghĩa đều có thể dịch sang các câu về kinh nghiệm cảm biết. Nốt: cách hiểu ở đây không liên hệ gì đến khái niệm radical reductionism, mặc dù cụm từ này lần đầu tiên do William James đặt ra.
  123. + immediate experience
  124. + cảm biết ~ cảm giác
  125. John Horne Tooke, The Diversions of Purly (London, 1776; Boston, 1806), I, ch. ii.
  126. + sense datum. Có cách dịch khác là dữ liệu giác quan.
  127. + admissible ways of compounding
  128. + term-by-term critique.
  129. + radical reductionism
  130. + significant units
  131. + Gottleb Frege, Foundations of Arithmetic; New York: Philosophical Library, 1950. Bản in lại Grundlagen der Arithmetik; Breslau, 1884 in song song bản dịch Anh, tiết 60.
  132. + Trong triết học ngôn ngữ của B. Russell, “incomplete symbols” (ký hiệu không đầy đủ) là một khái niệm cốt lõi trong thuyết miêu tả (theory of descriptions) mà ni ông phát triển vào năm 1905. Ý tưởng này xuất phát từ nỗ lực giải quyết các nghịch lý logic và các vấn đề ngữ nghĩa liên quan đến các biểu thức như “Vị vua hiện tại của nước Pháp”. “Ký hiệu không đầy đủ” là các biểu thức trong ngôn ngữ—đặc biệt là miêu tả xác định như “the author of Waverley” hay “the present King of France”: chúng không có ý nghĩa độc lập, tức là chúng không rép đến một thực thể cụ thể nếu đứng một mình. Chúng không phải là tên riêng hay ký hiệu đầy đủ. Chúng chỉ có thể được hiểu thông qua cách chúng được sử dụng trong câu, tức là qua định nghĩa theo ngữ cảnh (contextual definition): Chúng chỉ có ý nghĩa trong ngữ cảnh của một câu hoàn chỉnh, nơi chúng được phân tích về mặt logic. Xem thêm “Về Sự Chỉ Gọi (On Denoting)”; Bertrand Russell (eVersion 0.31); Trần Đình Thắng dịch, link: https://tapchitriet.com/?p=1177
  133. b. Xem “On What There Is,”, tr. 6.
  134. + Xim quy gọn triệt để giả định rằng mọi diễn ngôn có nghĩa đều có thể quy về một ngôn ngữ cơ sở — gọi là ngôn ngữ dữ liệu-cảm biết. Nhưng chỉ một phần rất nhỏ của toàn bộ diễn ngôn này có thể là trực tiếp nằm trong ngôn ngữ dữ liệu-cảm biết— ví dụ như “Tôi đang thấy màu đỏ” hoặc “Có một điểm sáng ở vị trí này”. Do đó, “phần còn lại của diễn ngôn có nghĩa” chính là tất cả những chắt còn lại của ngôn ngữ thông thường hoặc khoa học, tức là những chắt có nghĩa, nhưng không trực tiếp thuộc về ngôn ngữ dữ liệu-cảm biết—và do đó cần phải được dịch (translate) vào ngôn ngữ sense-datum một cách gián tiếp, từng câu một.
  135. a. R. Carnap, Der logische Aufbau der Welt (Berlin, 1928).
  136. + phi logic; extralogical
  137. + spatio-temporal point-instants
  138. + qualities
  139. + the laziest world
  140. + The principle of least action
  141. + The connective ‘is at’
  142. + corporate body. Chinh thể luận (holism) được Quine tán thành trong “Two Dogmas” là cực đoan qua cách dùng cụm “toàn bộ” (corporate body), trong đó bao gồm tất cả mọi bộ môn khoa học. Tuy nhiên, gần một mười năm sau trong Word and Object (1960) và trong một số tác phẩm tiếp theo của mình, ni đã xem xét lại chỉnh thể luận của mình và thừa nhận rằng sẽ chính xác hơn khi chi nói về những lĩnh vực khoa học quan trọng, thay vì toàn bộ khoa học. So sánh ‘Khi ta lần đầu bắt đầu tin bất cứ thứ gì, thứ mà ta tin không phải là một chắt duy nhất mà là một tổng thể hệ thống: ánh sáng rạng dần khắp toàn thể’ (141) và ‘Ta không học thực hành về cách đưa ra những phán đoán thường nghiệm chỉ bằng cách học các run: ta được dạy các phán đoán và các kết nối giữa chúng với các phán đoán khác. Một tổng thể các phán đoán hợp lý được đưa cho ta’. (140) (Về Tính Chắc Chắn, L. Wittgenstein, Trần Đình Thắng; Domino 2021).
  143. Pierre Duhem đã biện luận rất tốt học thuyết này, La Theorie physique: son objet et sa structure (Paris, 1906): 303-328. Hoặc xem Armand Lowinger, The Methodology of Pierre Duhem (New York: Columbia University Press, 1941): 132-140.
  144. + …vacuously confirmed – nghĩa là, loại phát biểu này có thể được khẳng định bởi bất cứ tổ hợp nào của kinh nghiệm; chẳng hạn, giả sử e là một kinh nghiệm cửa biết nào đó (nóng 67 độ C chẳng hạn), phát biểu ‘Hoặc e hoặc ~e’ sẽ được xác nhận bởi tất cả kinh nghiệm.
  145. + (La tinh) ipso facto (bởi chính lý do này). Ở đây dịch thoát cho rõ nghĩa.
  146. + all too naturally
  147. + duality
  148. + defining a symbol in use >> nghĩa là, định nghĩa theo ngữ cảnh.
  149. + «impossible» thường dịch là «bất khả thi/năng»
  150. + the impossible term-by-term empiricism of Locke and Hume. Quine đang rép đến góc nhìn cho rằng, mỗi từ có ý nghĩa sẽ đại diện cho một tập hợp các kinh nghiệm cửa biết có thể, và không có gì khác nữa. Quine cho rằng đó là một tiến bộ đáng kể — và đặc biệt là một bước tiến cho xim thường nghiệm — khi ta nhận ra rằng ta có thể “định nghĩa một ký hiệu thông qua sử dụng” mà không cần liên kết từ này với bất kỳ thể phi ngôn ngữ nào vốn là ý nghĩa của nó hoặc bất kỳ tập hợp thực thể nào mà từ này áp dụng. Để định nghĩa một ký hiệu qua sử dụng, người ta đưa ra một quy tắc chỉ định phần đóng góp của từ đó đối với ý nghĩa của mỗi câu mà nó xuất hiện. Một ví dụ điển hình về định nghĩa như vậy là sự phân tích của Russell về từ nón (mạo từ) xác định ‘the’. (theo The Dawn Of Analysis, Vol 1; Scott Soames)
  151. + The unit of empirical significance is the whole of science. Như vậy, đơn vị của ý nghĩa về mặt thường nghiệm có thể đánh đồng với đơn vị có thể được xác nhận hoặc bác bỏ?
  152. + …is a man-made fabric which impinges on experience only along the edges. Dịch khác: … là một tấm vải do con người dệt nên và kết nối với kinh nghiệm chỉ qua các mép đường viền.
  153. + underdetermine: ‘xác định không đầy đủ’. Đây là tơm của Quine và ni đưa ra ba nét chính của tơm này. Đầu tiên, các lý thuyết gọi là không đủ xác định thông qua các quan sát quá khứ vì một số quan sát trong tương lai có thể mâu thuẫn với chúng. Thứ hai, những lý thuyết không đủ xác định bởi những quan sát trong quá khứ lẫn tương lai bởi vì một số quan sát mâu thuẫn có thể không được chú ý đến. Thứ ba, những lý thuyết không đủ xác định bằng tất cả các quan sát có thể bởi vì tiêu chí quan sát của những lý thuyết đấy quá co dãn và rời rạc. Underdetermination (hoặc ‘underdetermination of theory by evidence’, ‘underdetermination problem’, ‘underdetermination of theory by data’): Góc nhìn cho rằng luôn có nhiều hơn một lý thuyết ăn khớp với tất cả các dữ liệu và chứng cứ có sẵn cho một người quan sát và do đó, các lý thuyết khoa học không đủ xác định để đi đến quyết định. Ví dụ về vấn đề ‘vật chất tối’ thì có hai phe, phe chống thì cho rằng không hề có cái gọi là vật chất tối, phe ủng hộ (MOND) lại cho là có vật chất tối; cuộc tranh cãi này kéo dài ít ra cũng trên ba mươi năm, và câu hỏi này không thể đi đến một kết luận dứt điểm, bởi vì không một quan sát hoặc thí nghiệm nào có thể bác sai được (falsify) cả hai cách tiếp cận này.
  154. + ảo giác; hallucination
  155. + với những điều chỉnh cần thiết, thì ‘không có phát biểu nào là miễn nhiễm với việc sửa đổi’ tương đương với ‘không phát biểu nào là phân tích’.
  156. + luật bài trung
  157. + the sensory periphery
  158. + Một trong những đặc điểm nổi bật của bức tranh “Hai giáo điều” là, mặc dù có thể có sự khác biệt về mức độ, logic, toán học, lý thuyết lượng tử, và phát biểu ‘có những ngôi nhà gạch trên phố Elm’, tất cả những thứ này đều nằm trong cùng một con tàu nhận thức; không thứ nào miễn nhiễm với sự bác bỏ.
  159. + tức người có mông ngựa; bán nhân bán mã; centaur
  160. + Ở đây không dịch là ‘rép’ hay ‘tham chiếu’ (reference) vì đọc nghe khá cứng và khó hiểu.
  161. + thuận tiện, tiện lợi
  162. b. Xem tr. 17f, “On What There Is”. + «irreducible posits»
  163. + thực thể; entity
  164. b. Xem tr. 17f “On What There Is”. + …it includes the algebra of rational numbers as a jagged or gerrymandered part. + Toàn bộ đại số các số hữu tỉ và vô tỉ chính là toàn bộ hệ thống số thực (ℝ): bao gồm cả số hữu tỉ ℚ (như ½, 3, -5) và số vô tỉ (như √2, π, e…). Các phép toán cơ bản như +, – , x, ÷ ((cộng, trừ, nhân, chia) có thể thao tác trên tập số hữu tỉ ℚ (1/4 + 2/4 = 3/4), nhưng phép toán lấy căn (√) thì không thể: √(3/4) thì không thể là một số hữu tỉ; nhưng với số thực (ℝ) thì có thể thực hiện mọi thao tác tính toán cơ bản trên đấy một cách dễ dàng, mượt mà hơn. Ngoài ra, dù số hữu tỉ (ℚ) tuy đã có một cấu trúc đại số riêng, nhưng nó không đủ để xác định toàn bộ số thực, lấy ví dụ, các số vô tỉ √2, π, e là các số không có trong ℚ.
  165. L’ontologie fait corps avec la science elle-mene et ne peut en etre separee.” Meyerson, p. 439. (Tồn tại luận là một với khoa học và không thể tách rời khỏi khoa học.’)
  166. + chẳng hạn, trong “Notes on Existence and Necessity”, Journal of Philosophy, 11 (1943), 113-127.
  167. On What There Is” tr. 12f; “Logic and the Reification of Universals”, tr. 102ff.
  168. Carnap, “Empiricism, Semantics, and Ontology”, Revue internationale de philosophie, 4 (1950), 20-40.
  169. a. Carnap, “Empiricism, Semantics, and Ontology,” tr. 32.
  170. + tức là xem các câu hỏi tồn tại luận thì khác với các giả thuyết khoa học.
  171. Để tìm hiểu cách diễn đạt hiệu quả về những nghi ngờ khác về sự phân biệt này, xem White [2].
  172. + centaur
  173. + Each man is given a scientific heritage plus a continuing barrage of sensory stimulation; and the considerations which guide him in warping his scientific heritage to fit his continuing sensory promptings are, where rational, pragmatic.

  1. a. Phần lớn bài báo này là để gặng xét về tính phân tích mà tôi nêu ra, bằng lời nói cũng như thư từ trong nhiều năm qua. Món nợ của tôi, đối với những người tham gia khác trong các cuộc thảo luận đó, đặc biệt là Carnap, Church, Goodman, Tarski và White, thì rất lớn và không thể xác định được. Bài luận xuất sắc của White “The Analytic and the Synthetic: An Untenable Dualism”, trong John Dewey: Philosopher of Science and Freedom (New York, 1950), nói lên nhiều điều cần phải nói về chủ đề này; nhưng trong bài báo này, tôi chỉ chạm đến một số khía cạnh khác của vấn đề này. Tôi biết ơn TS. Donald L. Davidson về những lời gặng xét giá trị cho bản thảo đầu tiên này. ↩︎

Leave a Reply

Sạn & Sỏi

Lặt vặt

Tác giả

300 Năm Kant A.J.Ayer AI Austin Book Hunter Bảo Tích Chalmers Cách ngôn Câu hỏi lớn Dịch Einstein Emmanuel Gặng xét Heidegger Hy Lạp IRED Kant Khoa học Kripke Logic Nagel Nguyễn Hữu Liêm Nguyễn Trung Kiên Nguyễn Xuân Xanh NXB Tri Thức Phân Tích Phật giáo Popper Quine Russell Ryle Schopenhauer Stroll Sạn Tarski Tractatus Triết học ngôn ngữ Triết học phân tích Triết học Phật giáo Triết học tâm trí Trí năng người tạo Trần Thị Điểu Trần Đình Thắng Wittgenstein Đỗ Quốc Bảo

Discover more from Triết Vui

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading